Viêm thực quản cấp tính

Friday, January 1, 2016



VIÊM THỰC QUẢN CẤP TÍNH



Viêm thực quản cấp tính bao gồm viêm cấp tính lớp niêm mạc và dưới niêm mạc của thực quản.

1. Nguyên nhân.

Nguyên nhân của viêm thực quản cấp tính được chia làm nhiều loại:

- Chấn thương làm sây sát, rách niêm mạc do dị vật, do soi thực quản, do axít, bazơ…

- Bệnh nhiễm khuẩn nặng như : cúm, sởi, thương hàn, đậu mùa…

- Dị ứng: bệnh nhân có tiền sử dị ứng như viêm mũi dị ứng, nổi mề đay, hen.

- Viêm mủ ở vùng kế cận như viêm phế quản mủ, viêm mủ bên cạnh họng…

- Dịch vị: dịch vị ở dạ dày trào lên thực quản.


viem thuc quan cap tinh




2. Lâm sàng.

Bệnh cảnh lâm sàng khác nhau tùy theo mức độ viêm.

a. Viêm nông.

Ví dụ viêm thực quản do cảm cúm ở trẻ em: bé sốt cao, không ăn uống được vì nuốt đau và nôn, đau thượng vị, bụng trướng, bé đau ở sau xương ức lan ra đến giữa hai vai, toàn thể trạng xấu.

Soi thực quản thấy viêm mạc đỏ, phù nề, có điểm tím bầm; thành thực quản có vẻ dày, thâm nhiễm, mất di động. Bệnh nhân có thể tử vong vì viêm phổi, viêm phế quản, trụy tâm mạch.

Trong trường hợp nhẹ, ví dụ viêm thực quản dị ứng, bệnh nhân chỉ kêu đau sau xương ức, khó nuốt, chảy nhiều nước bọt. Bệnh nhân tránh thức ăn cứng, chất chua cay và chỉ dùng chất lỏng. Nhiệt độ và nhiệt mạch không thay đổi. Bệnh sẽ tự khỏi trong vòng vài ngày.


b. Viêm mủ.

Thể này thường gặp trong hốc xương, khi cạnh nhọn của xương làm rách viêm mạc và mở cửa cho vi khuẩn vào lớp dưới viêm mạc. Bệnh tích có thể khu trú hoặc tỏa lan.

Bệnh tích khu trú biến thành apxe. Túi mủ ở dưới viêm mạc, vì vậy còn được gọi là apxe trong thành thực quản. Soi thực quản thấy niêm mạc đỏ và sưng phồng trong lòng thực quản.

Bệnh nhân nuốt đau, không ăn được, đồng thời kêu đau ở sau xương ức lan đến giữa hai bả vai, nhiệt độ ở khoảng 38 độ. Sau đó vài hôm, apxe vỡ vào thực quản, bệnh nhân khạc ra mủ. Các triệu chứng đau và sốt cũng giảm dần và hết.

Bệnh tích tỏa lan: viêm tấy thực quản ( xem bài dị vật thực quản ).

Quátrình viêm tỏa lan khắp các lớp của thực quản hoặc tập trung thành túi mủ ở giữa hai lớp cơ hay ở lớp mở lỏng lẻo chung quanh thực quản. Đây là thể nặng và có triệu chứng khá ồ ạt như sốt cao, dao động, rét run, da mặt xám chì, toát mồ hôi, khó thở, mạch nhanh. Bệnh nhân kêu đau nhiều trong ngực, có cảm giác bop

ngực, nuốt rất đau, không ăn uống được.

Biến chứng có thể xảy ra là viêm trung thất hoặc viêm tổ chức liên kết ở cổ.

Tiên lượng bệnh không được tốt lắm nhất là khi có biến chứng.

Vi khuẩn gây nên bệnh thường là tụ cầu, liên cầu,Ecôli… và nhất là vi khuẩn yếm khí. Loại sau này gây ra mủ thối và sinh hơi làm cho túi mủ có hai tầng, tầng mủ và tầng hơi.

c. Viêm loét.

Nguyên nhân gây bệnh thường là những chất ăn mòn như axit, bazơ… đã được trình bày trong bài “Bỏng thực quản”.



3. Chẩn đoán.

Chẩn đoán viêm thực quản dựa vào tiền sử, triệu chứng lâm sàng và hai xét nghiệm quan trọng là soi thực quản và chụp X quang thực quản.

Soi thực quản giúp chúng ta thấy rõ bệnh tích và phân loại với một số bệnh khác về thực quản như co thắt thực quản, liệt thực quản, hẹp thực quản…

Chụp thực quản giúp chúng ta phát hiện ra túi mủ chung quanh thực quản cổ (chụp theo tư thế nghiêng).



4. Điều trị.

Tùy theo mức độ của bệnh mà có cách điều trị khác nhau.

- Đối với viêm niêm mạc thông thường, chúng ta cho bệnh nhân uống sữa, siro cloral, siro mocphin ,khang sinh.

- Đối với apxe dưới niêm mạc: chích apxe qua ống soi thực quản, tiêm khang sinh.

- Đối với viêm tấy xung quanh thực quản có túi mủ: tiến hành phẫu thuật mở cổ hoặc mở trung thất, tiêm kháng sinh với liều lượng cao (3 đến 5 triệu đơn vị Penixilin mỗi ngày). Propidon (vacxin) có tác dụng tốt trong viêm thực quản cấp tính.


Subscribe your email address now to get the latest articles from us

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License