Giun sán truyền qua vật chủ trung gian

Sunday, July 5, 2015



1. Khái niệm:

Giun sán chia 2 nhóm:

- Geohelminth: giun sán truyền qua đất là mầm bệnh từ người ra môi trường ngoài (đất) và nhiễm vào người không qua vật chủ trung gian. Đại diện là các loài giun đường ruột và sán dây lợn.

- Biohelminth: giun sán truyền qua vật chủ trung gian, phần lớn truyền qua thức ăn (Foodborn parasite) là mầm bệnh từ người ra môi trường và phải phát triển qua vật chủ trung gian mới nhiễm vào người, hầu hết do ăn phải ấu trùng giun sán trong thức ăn. Đại diện là các loài sán lá, sán dây, giun xoắn, giun đầu gai...Trong nhóm này còn có giun chỉ theo đường lây nhiễm đặc biệt là do muỗi truyền và sán máng theo đường da khi người tiếp xúc với nước có ấu trùng sán máng.



2. Đặc điểm sinh học của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:

2.1. Vị trí ký sinh: tuỳ từng loại giun sán mà có vị trí ký sinh tương ứng. Tuy vậy trong một loài giun sán có thể ký sinh ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể. Ví dụ:
Sán lá gan chủ yếu ký sinh trong đường mật của gan, nhưng sán lá gan lớn có thể ký sinh lạc chỗ ở nơi khác như dưới da, khớp, cơ...
Sán lá phổi ký sinh chủ yếu ở tiểu phế quản phổi nhưng cũng có khi ký sinh ở màng phổi, não, dưới da, phúc mạc, tinh hoàn...
Sán lá ruột ký sinh ở ruột non
Sán dây bò, sán dây lợn ký sinh ở ruột. Người bị nhiễm sán dây lợn trưởng thành có thể bị nhiễm ấu trùng sán lợn theo cơ chế tự nhiễm và ấu trùng sẽ ký sinh nhiều nơi như não, cơ, dưới da, mắt...
Giun xoắn ký sinh ở ruột, ấu trùng của nó ở các cơ vân
Sán máng ký sinh ở tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch bàng quang
Giun chỉ ký sinh trong hệ thống bạch huyết
Giun đầu gai ký sinh ở nhiều vị trí trên cơ thể



2.2 Đường xâm nhập của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:

Mầm bệnh của các loại giun sán truyền qua vật chủ trung gian chủ yếu xâm nhập vào người qua đường ăn uống 1 cách thụ động do vật chủ ăn phải thức ăn (thịt, cá, tôm, cua, thực vật thuỷ sinh...) có ấu trùng sán còn sống.

Ngoài ra, trong nhóm này còn có giun sán truyền theo con đường đặc biệt như sán máng do ấu trùng chủ động chui qua da vật chủ trong môi trường nước và giun chỉ do muỗi đốt người có ấu trùng giun chỉ.



2.3 Con đường giun sán truyền qua vật chủ trung gian thải ra môi trường:

Mầm bệnh giun sán truyền qua vật chủ trung gian như trứng sán lá gan, sán lá phổi, sán máng, sán dây, giun xoắn... thải ra môi trường xung quanh; ấu trùng giun chỉ ra khỏi người do muỗi đốt hút máu có ấu trùng. Các loài sán lá đều qua môi trường nước vào ốc thích hợp (vật chủ trung gian thứ nhất) sau đó chuyển sang ký sinh ở vật chủ trung gian thứ 2 tuỳ loài sán. Ví dụ sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ ký sinh ở cá; sán lá gan lớn và sán lá ruột lớn ký sinh ở thực vật thuỷ sinh, sán lá phổi ký sinh ở tôm cua nước ngọt; ấu trùng sán máng sau khi qua ốc sẽ bơi tự do trong nước để chui qua da vật chủ.

Sán dây lợn được lợn ăn phải và phát triển thành ấu trùng trong thịt lợn (lợn gạo).

Sán dây bò được trâu bò ăn phải và phát triển thành ấu trùng trên thịt trâu bò (trâu bò gạo)

Trứng giun xoắn ra môi trường sẽ được lợn, động vật hoang dại ăn phải tạo ấu trùng trong cơ



2.4. Đặc điểm sinh sản của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:



· Hầu hết là lưỡng giới (trừ sán máng, giun chỉ, giun đầu gai, giun xoắn)

· Sinh sản bằng đẻ trứng (sán máng, giun xoắn, giun đầu gai)

· Sinh sản bằng rụng đốt (sán dây)

· Sinh sản đẻ ấu trùng (giun chỉ)



2.5. Đặc điểm chu kỳ phát triển của giun sán truyền qua vật chủ trung gian

Tất cả các loài giun sán trong nhóm này bắt buộc qua vật chủ trung gian (trừ trường hợp tự nhiễm sán dây lợn)



Một số chu kỳ của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:Hình vẽ

Sán lá gan nhỏ, sán lá ruột nhỏ (H.1)

Sán lá gan lớn, sán lá ruột lớn (H.2)

Sán lá phổi (H.3)

Sán dây (H.4)

Sán Máng (H.5)

Giun xoắn (H.6)

Giun chỉ (H.7)



2.6. Đặc điểm dinh dưỡng của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:



Chiếm chất dinh dưỡng của cơ thể



2.7 Đặc điểm sống của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:

Phụ thuộc sự có mặt của vật chủ trung gian thích hợp

Tuổi thọ:

Sán lá gan:

Sán lá phổi:

Sán dây:

Sán máng:

Giun chỉ: 4-6 năm, có khi 40 năm, ấu trùng tồn tại trong máu 1 năm



3. Đặc điểm dịch tễ:



Bệnh giun sán truyền qua vật chủ trung gian phổ biến ở hầu khắp trên thế giới với trên 40 triệu người nhiễm sán lá truyền qua thức ăn, 100 triệu người mắc bệnh sán dây, 200 triệu người mắc sán máng, 120 triệu người mắc giun chỉ. Bệnh giun sán tryền qua thức ăn liên quan đến tập quán ăn thức ăn chưa nấu chín

Tại Việt Nam bệnh giun sán truyền qua thức ăn phổ biến ở nhiều địa phương có tập quán ăn thức ăn chưa nấu chín

Sán lá gan nhỏ đã xác định lưu hành ở 15 tỉnh (xem bản đồ), có nơi tỷ lệ nhiễm đến 37%. Tỷ lệ nhiễm tuỳ theo nhóm tuổi, cao nhất ở nhóm 40-50 tuổi, tỷ lệ nhiễm ở nam giới gấp 3 lần ở nữ giới. Tỷ lệ ăn gỏi cá trong nhân dân có tới 80%; ở miền Bắc ăn gỏi cá thái nhỏ trộn gia vị, ở miền Nam ăn cả con còn sống bơI trong chậu (gỏi sinh cầm). Chủng loại sán ở miền Bắc là Clonorchis sinensis, miền Nam là Opisthorchis viverrini. Xét nghiệm 10 loài cá trong ao có tới 7 loài nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ, trong đó cá mè nhiễm 44,5-92%. ẩc vật chủ trung gian thích hợp của sán lá gan nhỏ là Melanoides tubeculatus (tỷ lệ nhiễm 10,2%) và Parafossarulus striatulus (tỷ lệ nhiễm 5,1%).

Sán lá phổi: đã xác định có bệnh lưu hành ở 8 tỉnh miền núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lạng Sơn, Nghệ An. Tỷ lệ nhiễm trên người 0,2-15%, bệnh nhân là trẻ em chiếm 71%, không khác nhau về giới tính. Tỷ lệ nhiễm trên chó là 0,3-75%, trên cua đá là 8,7-98,1%. Cua đồng chưa tìm thấy ấu trùng san lá phổi, ốc Melanoides nhiễm ấu trùng sán lá phổi 1,4-3,6%. Loài sán lá phổi ở Việt Nam là Paragonimus heterotremus Chen et Hsia, 1964.

Sán lá gan lớn: đã xác định có ở 14 tỉnh:……

Điều tra dịch tễ tại 1 điểm thuộc tỉnh Khánh Hoà có tỷ lệ nhiếm sán lá gan lớn 11,1% với phản ứng ELISA (hiệu giá kháng thể 1/6.400-1/12.800). Thành phần loài sán lá gan lớn ở Việt Nam là Fasciola gigantica.

Sán lá ruột đã được xác định có ở ……….tỉnh trong đó có bệnh nhân nôn ra 8 sán và được xác định loài bằng hình thái học và sinh học phân tử là Fasciolopsis buski.

Sán dây lợn và sán dây bò ở Việt Nam phân bố rải rác nhiều nơi, ở đồng bằng tỷ lệ 0,5-2%; trung du 2-34%, miền núi 2-6%. Tuy vậy có nơi đồng bằng như ở Bắc Ninh tỷ lệ nhiễm tới 12%, miền núi như Yên Bái tỷ lệ nhiễm 9%.

Thành phần loài sán dây ở Việt Nam là Taenia saginata; T. solium và T. asiatica; trong đó T. solium chiếm 20%. Tỷ lệ lợn nhiễm ấu trùng sán dây là 0,02-0,9%. Tỷ lệ bò nhiễm ấu trùng sán dây là 0,02-0,3%.

Giun xoắn Trichinella spỉalis: Việt Nam đã có 2 vụ dịch ở miền núi, vụ dịch năm 1970 tại Mù Căng Chải (Yên Bái) có 26 người nhiễm chết 4 người và có 3 lợn nhiễm; vụ dịch năm 2001 tại Tuần giáo (Lai Châu) có 23 người nhiễm , chết 2 người, có 1 lợn nhiễm.

Giun chỉ lưu hành ở 16 tỉnh, tỷ lệ nhiễm từ 0,1-13,6%. Chủng loại giun chỉ là Brugia malayi chủ yếu ở miền Bắc và Wuchereria bancofti ở miền Nam. Muỗi truyền giun chỉ ở Việt Nam là một số loài thuộc giống Culex, Mansonia, Anopheles



4. Tác hại của giun sán truyền qua vật chủ trung gian:



Nói chung các loại giun sán truyền qua vật chủ trung gian gây tác hại rất lớn đối với sức khoẻ vật chủ đặc biệt có nhiều tai biến nguy hiểm.



4.1. Tác hại về dinh dưỡng:

Chiếm thức ăn và gây suy yếu cơ thể , đồng thời làm ảnh hưởng chức năng như sán lá gan nhỏ gây giảm chất lượng mật, gây rối loạn tiêu hoá.



4.2. Tác hại tại nơi ký sinh:



Đây là tác hại quan trọng của giun sán truyền qua vật chủ trung gian đối với cơ thể người. Ví dụ:

Sán lá gan nhỏ gây dày đường mật, kém đàn hồi, tắc mật, xơ gan cổ chướng và có liên quan đến ung thư đường mật Cholangiocarcinoma

Sán lá gan lớn gây áp xe cấp tính, huỷ hoại tế bào gan và sán có thể di chuyển đi nhiều nơi gây tai biến nguy hiểm.

Sán lá ruột gây viêm ruột, co thắt dữ dội….

Sán dây gây kích thích tại chỗ, giảm hấp thu, ấu trùng sán lợn gây động kinh, co giật, mù mắt…

Sán máng gây viêm tắc tĩnh mạch, xơ gan, lách to…

Giun chỉ gây phù voi, tàn phế, đái dưỡng chấp…

Giun xoắn gây đau cơ, co cơ nhất là cơ tim dẫn đến chết người

Giun đầu gai, sán nhái gây phù tại chỗ, chèn ép…



4.3. Tác hại do nhiễm các chất độc:



Giun sán truyền qua vật chủ trung gian cũng như giun sán truyền qua đất trong khi ký sinh đầu tiết ra nhiều chất gây độc cho cơ thể, các chất độc này tuỳ loại giun sán, chúng có tác động gây mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, mất ngủ, nhức đầu, có khi rối loạn tâm thần, có thể bị nhiễm độc nặng gây tử vong như nhiễm giun xoắn.

Đặc biệt trong nhóm giun sán này gây tăng bạch cầu ái toan.



5. Chẩn đoán giun sán truyền qua vật chủ trung gian:



5.1. Chẩn đoán lâm sàng:



Triệu chứng lâm sàng trong bệnh giun sán truyền qua vật chủ trung gian khá đặc hiệu so với nhóm giun sán truyền qua đất. Ví dụ:

Sán lá gan nhỏ: đau tức vùng gan, ậm ạch khó tiêu, rối loạn tiêu hoá.

Sán lá gan lớn: Sốt nóng, kéo dài, đau tức vùng gan, sụt cân.

Sán lá phổi: ho ra máu hay tràn dịch màng phổi, không sốt, ít sụt cân.

Ấu trùng sán lợn: động kinh, co giật, có nốt dưới da.
Giun xoắn: sốt, đau cơ, nhiễm độc



5.2. Chẩn đoán xét nghiệm:



Là chẩn đoán vàng để xác định bệnh. Tuỳ thuộc từng loài giun sán mà lấy bệnh phẩm xét nghiệm. Ví dụ:

Sán lá, sán dây là xét nghiệm phân; đối với sán lá gan lớn cần xét nghiệm máu (ELISA) kết hợp siêu âm.

Ấu trùng sán lợn: sinh thiết, CT scanner, cộng hưởng từ, ELISA

Giun chỉ: xét nghiệm máu ban đêm



5.3. Chẩn đoán dịch tễ:



Vùng có tập quán ăn thức ăn sống như gỏi cá, cua nướng, nem thính, tiết canh, nem chua, rau thuỷ sinh….



5.4. Các kỹ thuật áp dụng trong chẩn đoán:



Kỹ thuật xét nghiệm phân như với giun truyền qua đất: trực tiếp, Kato, Kato-Katz, formalin Ether

Miễn dịch học

Sinh thiết

Siêu âm

Chụp cắt lớp vi tính CT scanner hoặc cộng hưởng từ MRI

Trong điều tra dịch tễ có xét nghiệm tìm ấu trùng trên ốc bằng mổ vùng gan tuỵ và xét nghiệm tìm ấu trùng trên cua cá bằng tiêu cơ nhân tạo

Xét nghiệm tìm ấu trùng sán dây trên thịt bằng ép cơ, tách cơ.



6. Phòng chống giun sán truyền qua vật chủ trung gian:



Nguyên tắc: cắt đứt 1 hoặc các mắt xích trong chu kỳ phát triển của giun sán, chọn mắt xích có tính khả thi và kinh tế nhất là đường nhiễm trực tiếp vào người. Đồng thời phối hợp tác động đến các mắt xích khác.

Biện pháp: Cắt đứt đường lây trực tiếp vào người bằng ăn chín uống sôi, không ăn thực phẩm sống.

Kết hợp điều trị đặc hiệu cho người nhiễm vừa đảm bảo sức khoẻ vừa cắt nguồn lây lan mầm bệnh.

Phối hợp quản lý phân và chất thải có mầm bệnh để làm sạch môi trường.





Subscribe your email address now to get the latest articles from us

No comments:

Post a Comment

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License