Cimetidin - Tương tác thuốc và những chú ý khi chỉ định

Tuesday, February 24, 2015

CIMETIDIN

Thuốc kháng histamin chẹn các thụ thể H2 chống loét dạ dày tá tràng.Cần ghi chú ranitidin và thuốc tương tự được xếp vào một họ riêng.

CÁC THUỐC TRONG NHÓM.
CIMETIDIN viên nén 200 mg; 300 mg; 400 mg; 800 mg; ống tiêm 300 mg/2mL.

Cimetidine  ống tiêm 300 mg/2mL.

Cimetidine viên nén 800mg.

Brumetidin viên nén 400mg.

Brumetidin viên nén 400mg.
Cimet 200 viên nén bao 200mg.
Defense F.C viên nén 400 mg.
Himetin viên nén 300 mg.
Histodil viên nén 200 mg.
Histodil ống tiêm 200 mg/2 mL.

Histodil ống tiêm 200 mg/2 mL.

Suwelin ống tiêm 300 mg/ 2mL.

Suwelin ống tiêm 300 mg/ 2mL.

   1. CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC.
  • Cân nhắc nguy cơ/lợi ích: Mức độ 3.

-Thời kỳ cho con bú: Cimetidin qua được sữa mẹ và gây tăng tiết sữa.

-Thời kỳ mang thai: Do thận trọng, khi chưa có dữ liệu.
  • Cần theo dõi: Mức độ 1.

-Trẻ em: Sử dụng cimetidin chưa đủ lâu để rút được kinh nghiệm ở trẻ em. Nếu nhất thiết phải dùng thuốc, liều phải từ 20 đến 40 mg/kg/ngày chia nhiều lần.

-Suy gan: Tăng tạm thời aminotransferase (transaminase) đã được mô tả.

-Suy thận: Điều chỉnh liều, vì cimetidin được đào thải chủ yếu qua thận dưới dạng không thay đổi.

-Người cao tuổi: Nguy cơ lú lẫn hoặc rối loạn nhịp tim (nhịp xoang chậm) cao hơn.


    2. TƯƠNG TÁC THUỐC.

  • Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: Mức độ 3.
-Pentagastrin
Phân tích: Khả năng đối kháng giữa các tác dụng dược lý của pentagastrin và của thuốc kháng H2.
Xử lý: Khuyên người bệnh uống pentagastrin cách thuốc kháng H2 24 giờ.

-Phenytoin.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng (nguy cơ quá liều), nhưng cũng do ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Có thể cimetidin ức chế chuyển hoá phenytoin ở gan, do đó có nguy cơ quá liều.
Xử lý: Phenytoin có phạm vi điều trị hẹp, chuyển hoá bị ức chế dẫn đến nguy cơ quá liều. Tăng cường giám sát nồng độ phenytoin trong huyết tương khi điều trị thất bại hoặc thay thuốc chống loét dạ dày khác.

  • Tương tác cần thận trọng: Mức độ 2.
-Amiodaron.
Phân tích: Cimetidin ức chế chuyển hoá của amiodaron làm tăng nồng độ huyết thanh của amiodaron và của cả chất chuyển hoá còn hoạt tính. Tương tác xảy ra chậm.
Xử lý: Cần giám sát nồng độ huyết thanh của amiodaron mỗi khi bắt đầu điều trị cimetidin, và phải dự kiến có thể tăng nồng độ huyết thanh amiodaron để điều chỉnh liều.

-Benzodiazepin.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc, ức chế chuyển hoá các benzodiazepin, từ đó tăng các tác dụng dược lý. Điều này không được mô tả với các benzodiazepin liên kết với acid glucuronic như lorazepam, oxazepam, temazepam.
Xử lý: Với một số benzodiazepin như diazepam, alprazolam, dikali clorazepat, flurazepam, nitrazepam, triazolam hoặc clordiazepoxyd, đã thấy nguy cơ tăng buồn ngủ. Thay đổi thuốc chống loét dạ dày, hoặc điều chỉnh liều các benzodiazepin lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị. Báo cho người bệnh về những nguy cơ buồn ngủ có thể có, khuyên người bệnh đặc biệt cảnh giác khi lái xe hoặc vận hành máy.

-Carbamazepin.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Có thể cimetidin ức chế chuyển hoá ở gan của carbamazepin, vì vậy dẫn tới nguy cơ quá liều.
Xử lý: Carbamazepin là thuốc có phạm vi điều trị hẹp, khi chuyển hoá của carbamazepin bị ức chế sẽ dẫn đến nguy cơ quá liều. Nếu cần , tăng cường giám sát nồng độ carbamazepin trong huyết tương khi dấu hiệu quá liều xuất hiện, hoặc thay thuốc chống loét dạ dày. Dấu hiệu lâm sàng quá liều carbamazepin (xuất hiện 1 đến 3 giờ sau khi dùng thuốc) là triệu chứng thần kinh cơ, rối loạn tim mạch, co giật (nhất là trẻ em nhỏ tuổi), kích động, giật cơ, run, mất điều hoà, chóng mặt, giãn đồng tử, rung giật nhãn cầu, biểu hiện tâm thần vận động, tăng rồi giảm phản xạ gân xương.

-Cafein.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương, trong đó có cafein tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, cimetidin chẹn các cơ chế khử độc.
Xử lý: ở những người dùng thuốc kháng H2 kiểu cimetidin và uống cafein (cà phê, nước giải khát có ga chứa cafein, chè...), những tác dụng kiểu kích thích, dễ bị kích động, thậm chí mất ngủ đã được mô tả. Thông báo cho người bệnh biết các tác dụng này, và nếu cần, khuyên người bệnh giảm uống nước giải khát có chứa cafein, nếu những tác dụng này biểu hiện.

-Ciclosporin.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Tăng nồng độ ciclosporin trong máu do ức chế enzym.
Xử lý: Ciclosporin có phạm vi điều trị hẹp. Do ức chế chuyển hoá ciclosporin sẽ dẫn đến nguy cơ quá liều. Nếu cần, tăng cường giám sát nồng độ ciclosporin trong huyết tương khi dấu hiệu quá liều xuất hiện, hoặc thay thuốc chống loét dạ dày. Vì ciclosporin được thầy thuốc chuyên khoa chỉ định, nên thông thường liều được điều chỉnh tuỳ thuộc nồng độ ciclosporin trong huyết tương và dựa theo chức năng gan và thận.

-Clomethiazol (chlormethiazol).
Phân tích: Cimetidin làm tăng tác dụng an thần gây ngủ của clomethiazol. Cơ chế: Cimetidin ức chế enzym cytochrom P450 tại gan liên quan đến chuyển hoá clomethiazol, làm giảm lưu lượng máu qua gan; cả hai cơ chế đều làm giảm tốc độ đào thải clomethiazol ra khỏi cơ thể.
Xử lý: Giảm liều clomethiazol vào khoảng một nửa hoặc thay cimetidin bằng ranitidin.

-Cloramphenicol (tiêm tĩnh mạch).
Phân tích: Gây thiếu máu giảm sản nặng ở người đang dùng cimetidin, mà lại được tiêm tĩnh mạch cloramphenicol. Cơ chế: Tác dụng hiệp đồng ức chế tủy xương của hai thuốc.
Xử lý: Phải thận trọng khi phối hợp.
Cloroquin
Phân tích: Cimetidin ức chế chuyển hoá cloroquin ở gan, do đó làm giảm chuyển hoá và đào thải của cloroquin ra khỏi cơ thể.
Xử lý: Cần theo dõi lâm sàng để phát hiện sớm bất cứ dấu hiệu nhiễm độc nào của cloroquin trong khi phối hợp.

-Dobutamin.
Phân tích: Tăng huyết áp mạnh khi truyền tĩnh mạch dobutamin cho người đang dùng cimetidin (trong giai đoạn tiền mê). Cơ chế: Cimetidin có thể đã ức chế chuyển hoá và độ thanh lọc của dobutamin ở gan, do đó làm tăng tác dụng.
Xử lý: Tuy mới có một trường hợp xảy ra, nhưng cũng cần thận trọng giảm liều đầu tiên dobutamin ở người bệnh đang điều trị cimetidin.

-Erythromycin.
Phân tích: Cimetidin có thể làm tăng gần gấp đôi nồng độ huyết thanh của erythromycin, nên có thể gây độc (điếc có hồi phục). Cơ chế: Cimetidin làm chậm chuyển hoá và đào thải erythromycin, nên làm tăng nồng độ huyết thanh do ức chế oxy hoá N – khử methyl. Điếc là một tai biến của erythromycin với nồng độ cao.
Xử lý: Tuy mới có một trường hợp được báo cáo, vẫn cần thận trọng theo dõi lâm sàng khi phối hợp. Nhà sản xuất cho biết mất thính giác có hồi phục có thể xảy ra khi dùng erythromycin đơn độc với liều cao hơn 4g/ngày.

-Fluouracil.
Phân tích: Nồng độ trong huyết thanh của fluouracil tăng khoảng 75% khi phối hợp với cimetidin trong 1 tháng. Cơ chế chưa rõ, có thể khi phối hợp hai thuốc chuyển hoá của fluouracil bị giảm do cimetidin là một chất ức chế enzym và làm giảm lưu lượng máu qua gan.
Xử lý: Phải hết sức thận trọng khi phối hợp vì nguy cơ quá liều fluouracil. Có thể cần phải giảm liều fluouracil.

-Kháng histamin H2.
Terfenadin phối hợp cimetidin: Có thể gây loạn nhịp xoắn đỉnh.
Cetirizin hoặc hydroxyzin phối hợp cimetidin: Không có tương tác xấu.
Phân tích: Cimetidin ức chế cytochrom P450 ở gan, nên có thể ức chế chuyển hoá của nhiều thuốc, làm tăng nồng độ thuốc trong huyết thanh và đôi khi gây độc do quá liều.
Xử lý: Không có lý do chính đáng để tránh phối hợp cetirizin hoặc hydroxyzin với cimetidin. Chỉ mới có một thông báo về độc tính quá liều của terfenadin và cimetidin nên chưa đủ chứng cứ để cấm phối hợp.

-Lidocain hoặc thuốc tương tự.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy các nồng độ lidocain trong huyết tương tăng (nguy cơ quá liều), gây độc thần kinh và tim.
Xử lý: Lidocain có phạm vi điều trị hẹp; chuyển hoá bị ức chế dẫn đến nguy cơ quá liều. Tăng cường giám sát các nồng độ lidocain trong huyết tương khi dấu hiệu quá liều xuất hiện, hoặc thay đổi thuốc chống loét dạ dày. Tuy lidocain được chỉ định trong dự phòng và điều trị các rối loạn nhịp tim do tăng kích thích tâm thất, hoặc trong gây tê, thuốc được dành riêng để dùng tại bệnh viện. Như vậy có thể theo dõi chặt chẽ nồng độ lidocain trong máu với bất kỳ chỉ định nào. Dấu hiệu quá liều lidocain là vật vã, hoang tưởng, hội chứng lú lẫn, thậm chí cơn co giật, hôn mê, truỵ tim mạch.

-Mebendazol.
Phân tích: Tăng nồng độ huyết thanh của mebendazol, nên tăng tác dụng. Cơ chế: Cimetidin ức chế enzym cytochrom P450 tại gan, nên làm chậm chuyển hoá mebendazol.
Xử lý: Tương tác có ích về điều trị, nhưng phải cảnh giác đối với bất cứ biểu hiện nào của nhiễm độc do nồng độ cao của mebendazol trong máu (phản ứng dị ứng, giảm bạch cầu, rụng tóc, hói).

-Methadon.
Phân tích: Tương tác kiểu dược động học do ức chế enzym. Có nguy cơ quá liều hoặc ức chế hô hấp. Tương tác này cần được khẳng định. Tương tác xảy ra nhanh và nặng.
Xử lý: Tương tác đòi hỏi phải cảnh giác. Khó thở biểu hiện quá liều methadon: điều trị bằng naloxon, nếu cần (tại cơ sở chuyên khoa). Tương tác này cần được khẳng định: chú ý giám sát người bệnh.

-Nitroimidazol.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Có thể cimetidin ức chế chuyển hoá nitro-imidazol nên có nguy cơ quá liều.
Xử lý: Tương tác này tuỳ thuộc dạng bào chế được sử dụng. Nếu phối hợp cimetidin, phải điều chỉnh liều metronidazol (và cũng có giá trị với các nitro- 5 -imidazol khác), hoặc chọn một kháng H2 khác ít ức chế enzym hơn.

-Quinidin hoặc dẫn chất.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Có thể cimetidin ức chế chuyển hoá quinidin ở gan và các dẫn chất, nên có nguy cơ quá liều.
Xử lý: Quinidin có phạm vi điều trị hẹp; ức chế chuyển hoá dẫn đến nguy cơ quá liều. Hoặc thay đổi thuốc chống loét dạ dày, hoặc điều chỉnh liều quinidin lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng quinidin, tuỳ thuộc vào nồng độ quinidin trong máu và/hoặc sự xuất hiện các dấu hiều quá liều nếu có. Liều quinidin được đề nghị giảm 25% liều (uống) và 35% (tiêm tĩnh mạch). Dấu hiệu lâm sàng quá liều quinidin là rối loạn tiêu hoá, thần kinh giác quan, vật vã, ngừng thở, hạ huyết áp.

-Rượu.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Nguy cơ tăng nồng độ đỉnh của rượu trong huyết tương và dễ gây say rượu. Tương tác này còn tranh cãi.
Xử lý: Nên thông báo tương tác này tới Trung tâm cảnh giác thuốc trong vùng.

-Theophylin hoặc dẫn xuất.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, cimetidin chẹn các cơ chế khử độc.
Xử lý: Theophylin có phạm vi điều trị hẹp; chuyển hoá bị ức chế dẫn đến nguy cơ quá liều. Tăng cường giám sát nồng độ theophylin trong huyết tương khi có biểu hiện các dấu hiệu quá liều hoặc thay thuốc chống loét dạ dày. Dấu hiệu lâm sàng của quá liều theophylin ở người lớn là co giật, sốt cao, ngừng tim; ở trẻ em là vật vã, nói nhiều, lú lẫn, nôn liên tiếp, sốt cao, nhịp tim nhanh, rung thất, co giật, hạ huyết áp, rối loạn hô hấp, tăng thông khí phổi, rồi ức chế hô hấp.

-Thuốc chẹn beta.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Nguy cơ tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc chẹn beta chuyển hoá ở gan (acebutolol, alprenolol, betaxolol, labetalol, metoprolol, oxprenolol, propranolol, timolol) có thể gây tụt huyết áp và nhịp tim chậm.
Xử lý: Với một số thuốc chẹn beta như acebutolol, alprenolol, betaxolol, labetalol, metoprolol, oxprenolol, propranolol, timolol, một vài trường hợp nhịp tim chậm và hạ huyết áp đã được mô tả. Hoặc thay thuốc chống loét dạ dày, hoặc điều chỉnh liều thuốc chẹn beta lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng thuốc kháng H2. Xử lý này cần được khẳng định thêm, vì tương tác này không có ý nghĩa nhiều về mặt lâm sàng.

-Thuốc chẹn calci.
Phân tích: Cimetidin ức chế chuyển hoá của một số thuốc chẹn calci (ditiazem, nifedipin...) làm tăng nồng độ huyết thanh của các thuốc chẹn calci; cụ thể:
Diltiazem, nifedipin: Tăng nồng độ trong huyết thanh do cimetidin.
Felodipin, lacidipin, nimodipin, nisoldipin hoặc nitrendipin: Tăng nồng độ trong huyết thanh do cimetidin nhưng có vẻ không quan trọng về lâm sàng.
Amlodipin: Không tương tác với cimetidin.
Diltiazem phối hợp cimetidin và nifedipin phối hợp cimetidin tương tác đã được xác định.
Felodipin, lacidipin... cũng tăng nồng độ huyết thanh nhưng biến đổi huyết động không quan trọng.
Xử lý: Khi phối hợp diltiazem-cimetidin hoặc nifedipin-cimetidin, cần phải chú ý đến tăng tác dụng của thuốc chẹn calci. Liều diltiazem được đề nghị giảm khoảng 30-50% và liều nifedipin khoảng 4%.

-Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol, terbinafin.
Phân tích:
Hấp thu itraconazol và ketoconazol bị giảm. Cơ chế do cimetidin làm giảm dạ dày bài tiết, làm tăng pH dịch vị, nên làm itraconazol và ketoconazol kém hấp thu.
Tăng nồng độ huyết thanh của terbinafin. Cơ chế do cimetidin làm giảm chuyển hoá và đào thải terbinafin, nên làm tăng nồng độ của terbinafin trong huyết thanh.
Xử lý:
Khuyên người bệnh uống thuốc chống nấm azol và cimetidin cách nhau ít nhất 2-3 giờ. Giám sát tác dụng của thuốc chống nấm.
Chỉ cần theo dõi kết quả lâm sàng của terbinafin, vì tăng nồng độ huyết thanh không đáng kể.

-Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Có thể cimetidin ức chế sự biến đổi sinh học ở gan của các thuốc chống trầm cảm ba vòng, do đó có nguy cơ quá liều.
Xử lý: Dấu hiệu quá liều của một số thuốc chống trầm cảm ba vòng như amitriptylin, desipramin, doxepin, imipramin và nortriptylin đã được mô tả. Theo lý thuyết, những dấu hiệu như vậy có thể xảy ra với các thuốc chống trầm cảm ba vòng khác. Tốt nhất là thay thuốc chống loét dạ dày, hoặc điều chỉnh liều thuốc chống trầm cảm (có thể giảm tới 33-50% liều) lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị thuốc kháng H2. Các dấu hiệu quá liều của thuốc chống trầm cảm ba vòng gồm chóng mặt, vật vã, mất điều hoà, co giật, trạng thái sững sờ, hôn mê, giãn đồng tử, blốc tim, rối loạn tái cực, truỵ tim mạch, nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim, hạ huyết áp và ức chế hô hấp.

-Thuốc kháng acid uống hoặc than hoạt.
Phân tích: Thuốc kháng acid gây giảm hấp thu cimetidin qua đường tiêu hoá, nên làm giảm tác dụng của thuốc phối hợp.
Xử lý: Nhất thiết phải uống hai thuốc cách nhau ít nhất từ 1 đến 2 giờ. Các thuốc kháng acid thường được uống 1 giờ 30 sau bữa ăn, vì thức ăn làm tăng tiết acid dịch vị.

-Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, nên cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Nguy cơ hạ thrombin huyết được mô tả với acenocoumarol do ức chế dị hoá thuốc đó ở gan.
Xử lý: Với một số kháng vitamin K như acenocoumarol, phenindion và warfarin, nguy cơ giảm thrombin huyết đã được mô tả. Hoặc thay đổi thuốc chống loét dạ dày, hoặc điều chỉnh liều lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng thuốc kháng H2 tuỳ theo các kết quả về tỷ lệ chuẩn quốc tế (INR) hoặc tỷ lệ prothrombin (một liệu trình bằng kháng H2 kéo dài 4 đến 6 tuần).

-Thuốc uống chống tiểu đường.
Metformin: Cimetidin làm tăng nồng độ trong huyết thanh của metformin.
Sulfonylurea: Cimetidin làm tăng tác dụng hạ glucose máu của sulfonylurea.
Phân tích: Cimetidin ức chế chuyển hoá sulfonylurea ở gan, do đó làm tăng tác dụng. Cimetidin ức chế bài tiết metformin qua thận.
Xử lý: Cần cảnh báo cho người bệnh biết về sự tăng tác dụng hạ glucose máu của sulfonylurea, khi cimetidin được bắt đầu dùng (hiếm và không tiên đoán được). Liều lượng của metformin có thể phải giảm khi dùng cimetidin và phải luôn nhớ đến khả năng nhiễm acid lactic nếu nồng độ metformin quá cao.

-Zalcitabin.
Phân tích: Giảm độ thanh lọc qua thận của zalcitabin và tăng độc tính của thuốc này (bệnh ở hệ thần kinh, viêm tuỵ, nhiễm acid lactic, gan to...)
Xử lý: Hoặc thay cimetidin bằng sucralfat hoặc uống hai thuốc cách nhau 2 giờ.

  • Tương tác cần theo dõi: Mức độ 1.
-Carmustin hoặc dẫn chất.
Phân tích: Cimetidin là một chất ức chế enzym oxydase gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá của một số thuốc. Hơn nữa, cimetidin làm giảm lưu lượng máu ở gan. Như vậy nồng độ của một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), nhưng cũng vì ức chế một số biến đổi sinh học, cimetidin chẹn các cơ chế khử độc. Phối hợp cimetidin với carmustin làm tăng tác dụng ức chế tuỷ xương.
Xử lý: Khi phối hợp cimetidin với carmustin, thì sự tăng tác dụng ức chế tuỷ xương, với giảm bạch cầu trung tính và giảm tiểu cầu đã được mô tả. Có thể thay thuốc chống loét dạ dày, hoặc điều chỉnh liều của carmustin lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng kháng H2. Carmustin chỉ dùng ở bệnh viện, nên bao giờ cũng phải theo dõi huyết đồ bất kể có phối hợp hay không.

-Hormon giáp.
Phân tích: Giảm hấp thu levothyroxin (khi uống). Cơ chế chưa rõ.
Xử lý: Hậu quả của tương tác này không lớn, tuy vậy vẫn cần thận trọng theo dõi kết quả điều trị khi phối hợp hai thuốc, nếu cần phải tăng liều levothyroxin.

-Mefloquin.
Phân tích: Giảm đào thải mefloquin do cimetidin. Cơ chế do cimetidin làm giảm chuyển hoá mefloquin ở gan, nên làm chậm đào thải mefloquin.
Xử lý: Tính chất quan trọng về lâm sàng chưa chắc chắn. Cần cảnh giác với bất cứ biểu hiện nào của tăng tác dụng không mong muốn của mefloquin (chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau buốt) và nhiễm độc. Cần báo cáo ngay cho thầy thuốc trước khi dùng liều tiếp tục.

-Metronidazol.
Phân tích: Tăng nồng độ trong huyết thanh của metronidazol. Cơ chế do cimetidin làm giảm chuyển hoá của metronidazol.
Xử lý: Tác dụng của tương tác này yếu. Chưa có báo cáo nào về nhiễm độc metronidazol khi phối hợp với cimetidin.

-Praziquantel.
Phân tích: Tăng nồng độ huyết thanh của praziquantel. Cơ chế do cimetidin ức chế chuyển hoá praziquantel ở gan.
Xử lý: Đã có báo cáo phối hợp hai thuốc đã rút ngắn được thời gian điều trị bệnh ấu trùng sán lợn thần kinh.

-Quinin.
Phân tích: Cimetidin làm giảm đào thải quinin ra khỏi cơ thể. Nửa đời tăng, nhưng nồng độ đỉnh huyết thanh không thay đổi. Cơ chế do cimetidin ức chế chuyển hoá quinin ở gan, nên làm chậm đào thải.
Xử lý: Tác dụng lâm sàng chưa rõ, nhưng cần phải cảnh giác với bất cứ biểu hiện nào về nhiễm độc quinin trong khi phối hợp.

-Sertralin.
Phân tích: Tăng vừa phải nồng độ trong huyết thanh của sertralin. Cơ chế  cimetidin ức chế chuyển hoá sertralin, làm chậm đào thải, gây tích luỹ.
Xử lý: Nên thận trọng giám sát các tác dụng có hại có thể tăng lên (khô miệng, buồn nôn, tiêu chảy, khó tiêu, run, chậm xuất tinh, vã mồ hôi) khi phối hợp hai thuốc. Nếu cần, giảm liều sertralin, hoặc thay cimetidin bằng một thuốc chẹn H2 khác không có tính chất ức chế enzym như ranitidin, famotidin.

-Tacrin.
Phân tích: Tăng nồng độ tacrin trong huyết tương, có lẽ do ức chế chuyển hoá.
Xử lý: Nên chọn một kháng H2 khác.

Subscribe your email address now to get the latest articles from us

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License