Alopuriol hoặc dẫn chất

Thursday, December 4, 2014


                Thuốc chống bệnh thống phong (gút),thuốc ức chế tổng hợp acid uric.




CÁC THUỐC TRONG NHÓM


ALOPURINOL viên nén 100mg; 300mg.

Alopurinol viên nén 300mg.

Apo-Allopurinol viên nén 100mg; 200mg; 300mg.

Apo-Allopurinol viên nén 300mg.

Domedol viên nén 300mg.
Milurit viên nén 100mg; 300mg.

Milurit viên nén 100mg; 300mg.

Zyloric viên nén 100mg.

Zyloric viên nén 100mg.



1. CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC.
  • Cân nhắc nguy cơ / lợi ích: Mức độ 3.

-Thời kỳ cho con bú: Alopurinol tham gia quá trình chuyển hoá (ức chế  tổng hợp purin, và gây những bất thường trong chuyển hoá các pyrimidin) nên tránh dùng suốt trong thời kỳ cho con bú.

-Thời kỳ mang thai: Alopurinol tham gia quá trình chuyển hoá (ức chế tổng hợp purin, và gây những bất thường trong chuyển hoá pyrimidin) nên tránh dùng trong thời kỳ mang thai.
  • Thận trọng khi dùng: Mức độ 2.

-Suy gan hoặc thận: 3% số trường hợp dùng thuốc, có tai biến ngoài da như ngứa, ban đỏ và hiếm hơn là mày đay hay phản ứng ngoài da có tróc mảnh; các tai biến này thường gặp ở người bệnh suy gan.
  • Phối hợp nguy hiểm: Mức độ 4.

-Acid ascorbic.
Phân tích: Dùng đều đặn acid ascorbic liều cao, do làm acid hoá nước tiểu, có thể làm kết tủa urat ở thận.
Xử lý: Với người bệnh thống phong (gút), cần tránh làm acid hoá nước tiểu, và khuyên nên tăng lượng nuớc tiểu bài tiết bằng đồ uống có tính kiềm, tạo điều kiện cho sự hoà tan các tinh thể urat. Người bệnh hay tự dùng vitamin C, nên phải cảnh báo người bệnh thống phong điều trị bằng alopurinol về nguy cơ này, nó chỉ xuất hiện với những liều vitamin C thường ngày vượt quá 2g (có sự thay đổi đáng kể pH của nước tiểu).
  • Cân nhắc nguy cơ / lợi ích:Mức độ 3.

-Penicilin.
Phân tích: Nguy cơ cao có phản ứng ngoài da, đặc biệt với những penicilin nhóm A (ampicilin). Nguy cơ này đặc biệt quan trọng đối với người bệnh gút. Tuy vậy chưa xác định được nguyên nhân của hiện tượng này là do alopurinol, hay là do nồng độ acid uric cao trong máu.
Xử lý: Nên tránh phối hợp thuốc này. Nên tìm một kháng sinh loại khác có hoạt phổ tương tự đối với chủng khuẩn gây nhiễm.

-Vidarabin.
Phân tích: Nguy cơ rối loạn thần kinh, kiểu run, hay rối loạn trong hình thành ý nghĩ. Nguy cơ độc với thần kinh và các tác dụng có hại khác, như: thiếu máu, buồn nôn, đau, ngứa.
Xử lý: Nếu phối hợp thuốc tuyệt đối cần thiết, phải theo dõi lâm sàng.
  • Tương tác cần thận trọng:Mức độ 2.

-Asparaginase.
Phân tích: Asparaginase làm tăng nồng độ acid uric trong máu.
Xử lý: Sự phối hợp thuốc chỉ được thực hiện tại bệnh viện. Kiểm tra liều lượng thuốc chống gút. Để tránh bệnh sỏi urat, người ta ưa dùng alopurinol hơn là các thuốc gây acid uric niệu, chúng có thể gây bệnh thận do urat.

-Azathioprin hoặc mercaptopurin.
Phân tích: Alopurinol ức chế chuyển hoá oxy hoá của azathioprin, và mercaptopurin (do tác dụng ức chế xanthin oxydase, là enzym giáng hoá các purin thành acid uric) gây nguy cơ tích luỹ các chất kháng chuyển hoá, gồm những base puric.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, người kê đơn phải giảm liều chất kháng chuyển hoá xuống 25 đến 30%.

-Cyclophosphamid hoặc thuốc tương tự.
Phân tích: Sử dụng đồng thời alopurinol với cyclophosphamid có thể làm tăng tác dụng ức chế tuỷ xương.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, cần nhấn mạnh phải theo dõi huyết đồ một cách chặt chẽ.

-Dactinomycin.
Phân tích: Nguy cơ làm tăng nồng độ acid uric trong huyết tương.
Xử lý: Có thể phải hiệu chỉnh liều thuốc chống gút để khắc phục sự tăng acid uric trong máu.

-Doxorubicin hoặc dẫn chất - melphalan.
Phân tích: Dùng đồng thời một thuốc kìm tế bào với một thuốc chống gút làm tăng nồng độ acid uric. Ngoài ra, tăng nguy cơ giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu do hiệp đồng những tác dụng có hại của các thuốc.
Xử lý: Nên tránh phối hợp các thuốc này, nếu không, có thể thất bại trong liệu pháp chữa thống phong.
-Pentostatin.
Phân tích: Pentostatin có thể làm tăng nồng độ acid uric. Có thể phải hiệu chỉnh liều alopurinol để khống chế tăng acid uric trong máu.
Xử lý: Nên dùng alopurinol (chất ức chế tổng hợp acid uric) thay cho những chất gây urat niệu để tránh nguy cơ bệnh thận vì urat.

-Sulfamid hạ glucose máu.
Phân tích: Alopurinol có thể ức chế bài tiết clorpropamid qua ống thận, do đó có thể gây nguy cơ hạ glucose máu nặng, vì làm tăng đáng kể nửa đời của clorpropamid.
Xử lý: Cần đặc biệt cảnh giác với người suy thận dùng hai thuốc này. Theo dõi chặt chẽ glucose máu khi bắt đầu, trong thời gian và khi ngừng điều trị với alopurinol. Tương tác này mới chỉ được mô tả với clorpropamid, còn với các sulfamid hạ glucose máu khác thì chưa được nói tới. Tốt hơn hết là ghi đơn dùng một thuốc khác chống tiểu đường.

-Theophylin hoặc dẫn chất.
Phân tích: Dùng alopurinol liều cao (ít nhất 600mg/ngày) cùng với theophylin sẽ kéo theo giảm độ thanh lọc theophylin ở thận và làm tăng nồng độ chất này trong huyết thanh.
Xử lý: Phải theo dõi chặt chẽ nồng độ theophylin trong huyết thanh, và điều chỉnh liều lượng theo kết quả theo dõi. Các dấu hiệu ngộ độc theophylin gồm buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị, nhức đầu, kích thích, mất ngủ, nhịp tim nhanh. Hiện tượng co giật nói chung được coi là dấu hiệu chắc chắn do nhiễm độc, và có thể là dấu hiệu đầu tiên (đặc biệt ở trẻ em). Cần nhớ là theophylin có ranh giới điều trị thấp.

-Thuốc acid hoá nước tiểu.
Phân tích: Dùng thường xuyên các thuốc acid hoá nước tiểu với liều cao có thể gây kết tủa các tinh thể urat ở thận.
Xử lý: Với người bệnh thống phong (gút), cần tránh acid hoá nước tiểu. Người bệnh hay tự dùng vitamin C, nên phải cảnh báo người bệnh gút điều trị bằng alopurinol về nguy cơ kết tủa urat ở thận, nguy cơ này chỉ xuất hiện khi dùng vitamin C hàng ngày với liều trên 2g (làm tăng pH nước tiểu đáng kể). Nên dùng đồ uống tính kiềm để tăng lượng nước tiểu bài tiết và tạo điều kiện hoà tan các tinh thể urat.

-Thuốc lợi tiểu thải kali; furosemid hoặc thuốc tương tự.
Phân tích: Các chất này làm tăng nồng độ acid uric trong máu và làm giảm tác dụng của liệu pháp chống bệnh thống phong (gút).
Xử lý: Tốt nhất nên tránh sự kết hợp các thuốc này vì có thể làm cho liệu pháp chữa thống phong thất bại.

-Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K.
Phân tích: Tăng nửa đời của thuốc chống đông máu, do ức chế chuyển hoá thuốc ở gan (tương tác dược động học về chuyển hoá ở gan).
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải theo dõi đều đặn hơn thời gian Quick và tỷ lệ chuẩn quốc tế (INR) ở người bệnh khi bắt đầu, trong quá trình và khi kết thúc điều trị bằng alopurinol. Sau khi đã hiệu chỉnh liều lượng, khuyên người bệnh dùng thuốc đều đặn, vào giờ nhất định. Không ngừng điều trị đột ngột hoặc thay đổi cách điều trị mà không có ý kiến của bác sĩ.

-Thuốc uống kháng acid hoặc than hoạt tính.
Phân tích: Làm giảm hấp thu alopurinol theo đường tiêu hoá, nên làm giảm tác dụng của thuốc này.
Xử lý: Cần để một khoảng thời gian từ một đến hai giờ giữa lúc uống thuốc kháng acid và alopurinol. Nên nhắc lại là thông thường thuốc kháng acid được dùng 1 giờ 30 phút sau bữa ăn, khi mà ăn là nguyên nhân của sư tăng tiết dịch ở dạ dày. Tương tác này với alopurinol còn cần được khẳng định.

Subscribe your email address now to get the latest articles from us

No comments:

Post a Comment

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License