Acid hóa nước tiểu

Thursday, December 4, 2014

          Thuốc có tác dụng làm hạ thấp pH nước tiểu.



CÁC THUỐC TRONG NHÓM

AMONI CLORID
Chlorammonic viên nén bọc 500 mg.
Atussin (phối hợp) siro.
Atussin (phối hợp) siro.

Benadryl (phối hợp).
Benadryl 200mL.

Komix (phối hợp).
Komix.


Zedex (phối hợp).
Zedex 100mL.


ACID PHOSPHORIC dung dịch uống 2,7 mg/90 mL.
Phosoforme dung dịch uống 2,7 mg/90 mL.
 .

1. CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH.


  • Chống chỉ định: Mức độ 4.
-Loét dạ dày - tá tràng; viêm dạ dày: Do tính acid của các chất này.

-Trường hợp khác: Chống chỉ định dùng một chất acid hoá nước tiểu ở tất cả những trường hợp nhiễm acid hoặc sỏi urat.

  • Cần theo dõi: mức độ 1
-Suy gan: Khi suy gan nặng, ion amoni (+NH4) bổ sung sẽ không được chuyển hoá, và dẫn đến nguy cơ tăng amoniac máu.

-Suy thận: Do ion amoni một phần được thải qua thận, nên có nguy cơ quá tải ở gan và trạng thái nhiễm acid tăng clor máu do thận.



2. TƯƠNG TÁC THUỐC.


  • Phối hợp nguy hiểm: Mức độ 4
-Sulfamid kháng khuẩn.

Phân tích: Phản ứng hoá - lý cho phép giải thích nguy cơ kết tinh sulfamid trong ống thận, kéo theo tổn thương thận thực thể. Kết tủa càng rõ khi pH khoảng 5. Tương tác này đã được thông báo trong y văn khi phối hợp với hexamin.
Xử lý: Tránh phối hợp hai thuốc này. Nếu cần phối hợp, phải theo dõi pH nước tiểu bằng giấy chỉ thị.

  • Tương tác cần thận trọng: Mức độ 2.
-Alopurinol hoặc dẫn chất.
Phân tích: Dùng thường xuyên các thuốc acid hoá nước tiểu liều cao có thể dẫn đến kết tủa các tinh thể urat ở thận.
Xử lý: Tránh acid hoá nước tiểu ở người bệnh thống phong (gút). Tăng bài niệu bằng cho uống nước kiềm tính để tạo điều kiện hoà tan tinh thể urat. Cần lưu ý đến vitamin C mà người bệnh hay tự ý dùng. Thông báo cho người bệnh thống phong dùng alopurinol biết nguy cơ vitamin C gây tủa urat. Nguy cơ chỉ xuất hiện với liều vitamin C dùng hàng ngày vượt quá 2g.
-Amphetamin hoặc dẫn chất.
Phân tích: Giảm tái hấp thu amphetamin ở ống thận. Các chất acid hoá nước tiểu làm tăng thải amphetamin (pH khoảng 5) qua thận. Amphetamin là một base thải qua nước tiểu. Trong môi trường acid, ít gặp thuốc này ở dạng không phân cực.
Xử lý: Tương tác có lợi: Acid hoá nước tiểu nhằm tạo điều kiện thải nhanh amphetamin khi dùng quá liều. Tương tác có hại cần tránh: Khi điều trị bằng amphetamin, có thể thất bại do thải thuốc quá nhanh (nếu acid hoá nước tiểu) hoặc có thể bị loạn tâm thần do ứ thuốc (nếu kiềm hoá nước tiểu).
-Barbituric.
Phân tích: Tăng tái hấp thu ở ống thận, có thể kéo dài tác dụng của barbituric và làm xuất hiện độc tính do quá liều.
Xử lý: Nếu cần phối hợp hai thuốc này, phải hiệu chỉnh liều dùng. Nếu người bệnh có biểu hiện ngủ gà khi dùng hai thuốc này, có khi phải giảm liều barbituric sau khi đã đo pH nước tiểu bằng giấy chỉ thị.
-Mexiletin.
Phân tích: Acid hoá nước tiểu có thể làm tăng thải mexiletin qua thận. Tương tác này, nêu trong các tài liệu, cho thấy có những biến đổi về ý nghĩa lâm sàng khi phối hợp thuốc.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải theo dõi các tác dụng trên lâm sàng, và luôn luôn ý thức là có thể có những biến đổi tác dụng dược lý của mexiletin.
-Primidon hoặc dẫn chất.
Phân tích: Làm tăng tái hấp thu ở ống thận.
Xử lý: Tác dụng dược lý của hai thuốc tăng lên, nên khi cần phối hợp hai thuốc thì phải hiệu chỉnh liều lượng. Đo pH bằng giấy chỉ thị để biết có cần hiệu chỉnh liều lượng hay không.
-Salicylat.
Phân tích: Nồng độ salicylat trong huyết tương tăng do giảm bài tiết qua nước tiểu khi phối hợp với các chất acid hoá.
Xử lý: Tác dụng dược lý của thuốc tăng lên, nên khi cần phối hợp thì phải hiệu chỉnh liều lượng. Đo pH nước tiểu bằng giấy chỉ thị để biết có cần hiệu chỉnh liều lượng hay không.
-Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự.
Phân tích: Thuốc chống trầm cảm ba vòng là base, nên các thuốc acid hoá nước tiểu có thể làm tăng bài tiết các thuốc đó qua nước tiểu. Ngược lại các thuốc kiềm hoá nước tiểu lại có tác dụng làm giảm bài tiết (tạo điều kiện tái hấp thu ở ống thận).
Xử lý: Mặc dầu tương tác này có thể xảy ra theo cơ chế lý - hoá, nhưng hình như không có những biểu hiện lâm sàng đáng kể.
-Thuốc kiềm hoá nước tiểu.
Phân tích: Trung hoà về mặt lý hoá.
Xử lý: Phối hợp hai loại thuốc này có thể hợp lý hay không hợp lý tuỳ theo mục đích điều trị. Đo pH nước tiểu bằng giấy chỉ thị.

Subscribe your email address now to get the latest articles from us

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License