KHẢO SÁT SỰ THAY ĐỔI HUYẾT ÁP BẰNG HOLTER HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Sunday, November 30, 2014

Khảo sát sự thay đổi huyết áp bằng holter huyết áp ở bệnh nhân đột quị não cấp tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên.
Nguyễn Trọng Hiếu1, Trần Thuý Hằng2, Cổ Thị Thu Hằng2
Nguyễn Quang Toàn2, Dương Thị Xuân Trà2

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát sự thay đổi huyết áp bằng máy Holter huyết áp bệnh nhân đột quỵ
não giai đoạn cấp.

Đối tượng phương pháp: 48 bệnh nhân đt quỵ não giai đoạn cấp được mang máy Holter huyết áp (ABPM) trong 48 giờ. Tiến hành khảo sát sự biến thiên huyết áp của các bệnh nhân các thời điểm ban ngày (6AM-10PM) ban đêm (10PM-6AM) với chế độ đo t động
30-60 phút/1 lần.


Kết quả: Các thông số huyết áp ở ngày thứ nhất và ngày thứ hai được duy trì tương đối n định mức bình thường hoặc tăng nhẹ. Các chỉ số huyết áp bệnh nhân chảy máu não xu hướng cao hơn bệnh nhân nhồi máu não, tuy nhiên sự khác biệt chưa ý nghĩa. 100,0% bệnh nhân CMN mất trũng HA ban đêm, tỷ l mất trũng ban đêm bệnh nhân NMN 87,1% trũng HA ban đêm 12,9%. Hiện tượng đo ngược nhịp ngày đêm ở bệnh nhân ĐQN giai đoạn cấp cao. Tỷ lệ vọt huyết áp sáng sớm bệnh nhân CMN cao hơn bệnh nhân NMN.
Kết luận: Các chỉ số huyết áp bnh nhân CMN có xu hướng cao hơn bệnh nhân NMN. Hiện tượng mất trũng huyết áp (Non-dipper) ban đêm được ghi nhận ở hầu hết các bệnh nhân đt quỵ não. Vọt huyết áp sáng sớm một trong những nguyên nhân gây ĐQN. Bởi vậy nên áp dụng kỹ thuật theo dõi huyết áp bng Holter huyết áp các bệnh nhân ĐQN cn thiết, giúp phát hiện những thay đổi nhịp huyết áp ngày đêm ở những bệnh nhân này.
Từ khóa: Huyết áp lưu động, đột quỵ não, trũng, mất trũng, vọt huyết áp sáng sớm.

ABSTRACT

AMBULATORY BLOOD PRESSURE MONITORING (ABPM) IN PATIENT WITH ACUTE BRAIN STROKE

Nguyen Trong Hieu1, Tran Thuy Hang2, Co Thi Thu Hang2
Nguyen Quang Toan2, Duong Thi Xuân Tra2

Objective: Investigation of the variation in blood pressure by ambulatory blood pressure monitoring (ABPM) in patient with acute brain stroke.

1 Trường Đại học Y Dược Thái nguyên
2 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
1 Thái nguyên university of Medicine and Pharmacy
2 Thái Nguyên central Hospital


Subjects and Methods: 48 patients with acute cerebral stroke were brough ABPM for 48 hours. To survey the variantion in blood pressure of the patient at time of the day (6AM-10PM) and night (10PM-6AM) with automatic measurement mode 30-60 minutes/1 time.
Results: Blood pressure parameters at the firth day and the second day was maintained relatively stable at normal or slightly increased. Blood pressure parameters of cerebral hemorrhage group tend to be higher than in the cerebral infarction group, but the difference is not significant. 100,0% of patient with cerebral hemorrhage loss of dipper at midnight. Non- dipper rate was 87,1% in patient intracerebral infarction group, dipper rate was 12,9%. Reverse- dipper in patient acute brain stroke was high. The early morning surge of blood pressure rate in cerebral hemorrhage is higher cerebral infarction.
Conclusion: Blood pressure parameters of cerebral hemorrhage group blood pressure tend to be higher than in the cerebral infarction group. Non-dipper was recorded almost patient acute brain stroke. The early morning surge is one of causes of brain stroke. Monitoring blood pressure in brain stroke patient by ABPM are needed to help detect the variation of the circadian rhythm of blood pressure in these patients.
Keywords: Ambulatory blood pressure monitoring (ABPM), stroke, dipper, Non-dipper.

1. ĐẶT VN ĐỀ

Đột quỵ não (stroke) là một bệnh xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ. Đột quỵ não th chảy máu não hoặc nhồi máu não, đây một cấp cứu tim mạch - thần kinh thường rất nặng, đe dọa tính mạng và để li di chứng nng nề cho người bệnh. Theo thống kê tại Mỹ chi phí cho điều trị và chăm sóc đột quỵ hết khỏang 70 tỷ USD. Đột quỵ não là nguyên nhân tử vong đứng thứ ba sau bệnh ung thư và tim mch.
Trong giai đoạn cấp của đột quỵ não, chỉ số huyết áp của các bệnh nhân thường nhiều biến đổi, mặc bệnh nhân thể vẫn được kim soát huyết áp bằng thuốc. Nhưng vấn đề kiểm soát tăng huyết áp trong đột quỵ não giai đoạn cấp còn nhiều quan điểm khác nhau, điều chỉnh tr số huyết áp trong giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến kết qu điều trị tiên lượng bệnh; huyết áp tăng cao thm tăng kích thước khối máu tụ hoặc có thể làm tình trạng phù não nặng nề thêm, trong khi để huyết áp ở mức thấp sẽ gây thiếu máu não [2].
Việc theo dõi liên tc huyết áp của bệnh nhân bằng máy Holter huyết áp trong giai đoạn cấp của đột quỵ não là một phương pháp đơn giản, gọn nhẹ, giúp theo dõi diễn biến chỉ số huyết áp của ngưi bệnh trong cả ngày, cho biết thời điểm huyết áp tăng cao nhất vào ban ngày hay ban đêm, hay trũng huyết áp (dipper) ban đêm không. T đó cho thầy thuốc biết được nhịp huyết áp ca người bệnh, nhằm kiểm soát tốt huyết áp ng cao hiệu quả điều trị. Đ tìm hiểu vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: Khảo sát sự thay đổi huyết áp ở bệnh nhân đột quỵ não giai đoạn cấp bằng máy Holter huyết áp tại bệnh vin đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

2. ĐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU

2.1. Đối tưng nghiên cứu

48 bệnh nhân được chẩn đoán xác định đột quỵ não vào vin trong 24 gi kể từ khi khởi phát. Kiểm soát huyết áp theo hướng dẫn điều trị ca ca B Y Tế Tổ chức đột quỵ Thế giới WSO (2011).


Tiêu chuẩn loại tr: Bệnh nhân chấn thương sọ não, viêm não, màng não, u não, u màng não, bệnh nhân tiền sử động kinh, tâm thần. Kèm theo các tình trạng cấp cứu khác: NMCT, phình ĐMC, rung nhĩ. Bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu.

2.2. Thời gian và đa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 01/2012 - 9/2012.

Đa điểm: Khoa Ni Tim mạch - Cơ xương khớp, Bnh vin Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Mô tả ct ngang, tiến cứu.

- Phương pháp chọn mẫu: Có chủ đích.

- Cỡ mẫu thuận tin.

2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu

- Các thông tin chung: Tuổi, gii.

- Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng.

- Chụp CLVT hoặc cộng hưởng từ sọ não: Xác đnh chảy máu não, nhồi máu não.

- V huyết áp: Huyết áp tâm thu (HATT), huyết áp tâm trương (HATTr), huyết áp trung bình (HATB) của ngày, đêm và 24 giờ ngày thứ nhất và ngày thứ hai.
- Vọt huyết áp sáng sớm: HATT HATTr tăng lên ít nhất 20/15mmHg tính t HA thấp nhất trong quá trình ng đến trung bình 2 giờ đầu tiên sau khi tỉnh giấc.
- Trũng huyết áp ban đêm (dipper): HATB ban đêm gim >10% so với HATB ban ngày.

- Không trũng huyết áp (non-dipper): HATB ban đêm gim 10% so vi HATB ban ngày
[9],[10],[15].

- Đo ngưc nhịp ngày đêm (Reverse-dipper): HATB ban đêm cao hơn so vi HATB
ban ngày.

- Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp của: WHO/ISH 2004.

Phương tiện nghiên cứu: Máy Holter huyết áp (máy đo huyết áp lưu đng) nhãn hiu BTL
08 của Mỹ kèm theo phần mền phân tích huyết áp AccuWinProv3.

Cách thức tiến hành: Bệnh nhân được theo dõi huyết áp bng máy Holter huyết áp trong
48 giờ ngay ngày đầu tiên vào viện. Cài đặt thời gian đo liên tục 30phút - 60phút/1 lần.

- Huyết áp ban ngày được tính từ 6:00 đến 21:00giờ 59 phút.

- Huyết áp ban đêm đưc tính t 22: 00 đến 5:00 giờ 59 phút.

- Ngưỡng HA đo lưu động: Đưc cài sẵn trong chương trình phân tích HA theo hội
THA Châu Âu (ESH): HATB 24h < 130/80 mmHg; TB ban ngày <135/85 mmHg; TB ban đêm
< 120/70 mmHg [15].


2.5. Xử lý số liệu

Phần mền SPSS và Excel.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bng 1. Phân bố đi ng nghiên cứu theo giới tính độ tui


Biến số
Chung
Nam
Nữ
n
%
n
%
n
%
<50
4
8,4
1
2,1
3
6,3
50-59
15
31,3
8
16,7
7
14,6
60-69
8
16,7
5
10,4
3
6,3
>70
21
43,8
14
29,2
7
14,6
Tổng
48
100,0
28
58,3
20
41,7

X ± SD
64,7±11,4
66,4±10,2
62,1±12,6

Tỷ l đt quỵ não gặp nam nhiu hơn nữ (28/20), hầu hết các bệnh nhân trong nghiên cứu ở độ tui trên 50 tui (91,6%). Tuổi trung bình 64,7 ± 11,4.

3.2. Đặc điểm huyết áp đo bằng máy Holter huyết áp ở đối tượng nghiên cứu

3.2.1. Kết quả huyết áp trong hai ngày đo bằng máy Holter huyết áp

Bng 2. Kết quả huyết áp ngày th nht ngày th hai của nhóm chy máu não

Thời gian

Thời điểm huyết áp

Ngày thứ nht

Ngày thứ hai

p


Huyết áp 24 giờ

(mmHg)
m thu
154,0±22,0
149,1±16,1
>0,05
Tâm trương
87,0±14,8
87,0±14,2
>0,05
Trung bình
109,5±16,2
107,6±13,6
>0,05


Huyết áp ngày

(mmHg)
m thu
158,8±20,4
152,0±15,2
<0,05
Tâm trương
86,9±14,4
87,7±16,9
>0,05
Trung bình
111,1±15,3
109,0±14,6
>0,05
Huyết áp đêm

(mmHg)
m thu
148,6±25
145,8±18,7
>0,05
Tâm trương
87,1±15,3
85,8±13,3
>0,05
Trung bình
107,5±17,5
105,8±13,9
>0,05
Huyết áp ngày huyết áp đêm ngày thứ nhất ngày thứ hai thay đổi không rệt. Nhưng có huyết áp tâm thu ngày th hai giảm hơn so với ngày thứ nhất, sự thay đổi với p<0,05.


Bảng 3. Kết quả huyết áp ngày thứ nht ngày th hai của nhóm nhi máu não



Thời gian
Thời điểm huyết áp


Ngày thứ nht


Ngày th hai


p


Huyết áp 24 giờ
(mmHg)
m thu
141,5±17,2
141,1±14,9
>0,05
Tâm trương
85,0±10,5
82,0±8,0
<0,05
Trung bình
103,9±12,0
101,5±9,4
<0,05


Huyết áp ngày
(mmHg)
m thu
141,8±18,7
145,1±16,4
<0,05
Tâm trương
86,7±10,8
83,3±11,1
<0,05
Trung bình
105,0±12,7
103,8±11,4
>0,05
Huyết áp đêm
(mmHg)
m thu
141,1±18,9
136,4±15,0
<0,05
Tâm trương
83,1±1,11
79,5±8,7
<0,05
Trung bình
102,4±13,1
98,3±9,6
<0,05

nhóm nhồi máu não, so sánh giữa ngày thứ nhất với ngày thứ hai thấy các thông số huyết áp ngày thứ hai xu hướng giảm s thay đổi ý nghĩa thống với p<0,05. Huyết áp ở 2 ngày nói chung là tương đối n định ở mc bình thường hoặc tăng nhẹ.


3.2.2. Biến đổi huyết áp theo giờ trong ngày (48 giờ)


Biểu đồ 1. Biến đi huyết áp theo giờ trong 2 ngày của nhóm CMN

Huyết áp ng vào 5 thời điểm 8-10 giờ, 14-15 giờ, 17-18 giờ, 20-21 gi 5-6 giờ. Thấp nhất vào 2-3 giờ sáng.


Biểu đồ 2. Biến đi huyết áp theo giờ trong 2 ngày của nhóm NMN

Huyết áp ng vào 4 thời điểm 9-10 giờ, 14-15 giờ, 17-18 giờ 5-6 giờ. Thấp nhất vào
12-13 giờ, 1-3 giờ sáng.

3.2.3. T l xut hiện vọt huyết áp sáng sm

Bảng 4. T l vọt huyết áp sáng sm ngày th nhất

Thể đt quỵ não

Chỉ số
Chy máu não
(n=17)
Nhi máu não
(n=31)

p

Vt huyết áp sáng sm
n
10
19

>0,05
%
58,9
61,2

Không vt huyết áp sáng sm
n
7
12

>0,05
%
41,1
38,7
T l vt huyết áp sáng sm và không vt huyết áp sáng sm hai nhóm là ơng đương nhau.

Bng 5. T l vọt huyết áp sáng sớm ngày th hai

Thể đt quỵ não

Chỉ số

Chy máu não
(n=17)

Nhi máu não
(n=31)

p


Vt huyết áp sáng sm
n
8
17


>0,05
%
47,0
54,8


Không vt huyết áp sáng sm
n
9
14


>0,05
%
53,0
41,2

Tỷ l vt huyết áp sáng sớm nhóm chảy máu não chiếm 47,0%, vọt huyết áp sáng sớm
nhóm chảy máu não chiếm 54,8%.

3.2.4. Tỷ lệ có trũng huyết áp ban đêm

Bảng 6. Tỷ lệ có trũng huyết áp ban đêm theo thể đt quỵ não

Th đột qu não


Biến cố
Chung

(n=48)
Chảy máu não

(n= 17)
Nhồi máu não

(n=31)
n
%
n
%
N
%
Trũng
Ngày th nhất

3

6,3

0

0

3

9,7
Ngày th hai
4
8,3
0
0
4
12,9

Mất trũng
Ngày th nhất
31
64,6
11
64,7
20
64,5
Ngày th hai
35
72,9
13
76,4
22
70,9

Đảo ngược
Ngày th nhất
14
29,1
6
35,3
8
25,8
Ngày th hai
9
18,6
4
23,5
5
16,1

Ngày thứ nhất, chỉ 6,3% bệnh nhân ĐQN xuất hiện trũng HA ban đêm, ngày th hai
8,3% và tt c đu là bnh nhân NMN; mt trũng HA ban đêm hai nhóm tương đương nhau. Đo ngưc nhp ngày đêm nhóm bnh nhân CMN cao hơn bnh nhân NMN c hai ngày theo i.

Bng 7. Tỷ lệ có trũng huyết áp ban đêm theo gii

Gii


Biến cố
Chung

(n=48)
Nam

(n=28)
Nữ

(n=20)
n
%
N
%
n
%


Trũng
Ngày th nht

3

6,3

2

7,1

1

5,0
Ngày th hai
4
8,3
3
10,7
1
5,0

Mất trũng
Ngày th nht
31
64,6
18
64,2
13
65,0
Ngày th hai
35
72,9
20
71,4
15
75,0

Đảo ngược
Ngày th nhất
14
29,1
8
28,7
6
30,0
Ngày th hai
9
18,6
5
17,9
4
20,0

Ngày thứ nhất ngày thứ hai theo dõi cho thấy tltrũng, mất trũng cũng như đảo ngược nhịp ngày đêm không có sự khác biệt giữa nam và nữ.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

V tuổi giới theo bng 1 cho thấy t l đột quỵ não gp nam nhiều hơn nữ chiếm
58,3%, gặp độ tui trên 50 tui (91.6%). Đây lứa tuổi, giới hay gặp trong đột quỵ phù hợp với đặc điểm chung của đột quỵ [3], [12].

4.2. Đặc điểm huyết áp đo bằng máy Holter huyết áp ở đối tượng nghiên cứu

4.2.1. Kết quả huyết áp trong hai ngày đo bằng máy Holter huyết áp

Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng trung bình huyết áp ngày của nhóm bệnh nhân chảy máu não ngày thứ nhất cao hơn ngày thứ hai, nhưng sự khác bit không ý nghĩa. Nói chung, mức huyết áp cả hai ngày đều được kiểm soát trong giới hạn cho phép (ở mức tăng nhẹ) không biến động nhiều, nhưng huyết áp tâm thu ngày thứ hai giảm hơn so với ngày thứ nhất, sự thay đổi vi p<0,05.
Nhóm bệnh nhân nhồi máu não, các thông s huyết áp được duy trì mức bình thường hoặc tăng nhẹ ít thay đổi giữa hai ngày. Kết quả này phù hợp với kết quả của các nghiên cứu khác cũng như với hướng dẫn kiểm soát huyết áp ở các bệnh nhân đột quỵ não [2],[11].
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy v bản các thông số huyết áp ở nhóm bệnh nhân chảy máu não xu hướng cao hơn so với nhóm bnh nhân nhồi máu não cả hai ngày. Kết quả này phù hp với nhận xét của các tác gi nước ngoài [1], [11]. Hiện tượng tăng huyết áp phản ứng sau đột quỵ giai đoạn cấp thường gặp, nhất trong chảy máu não thường tăng áp lực

nội sọ cần huyết áp mức cao để thể tưới máu cho não một cách thích hợp. Theo nghiên cu của Avraham Weiss cộng sự (2011) chỉ ra huyết áp ng bệnh nhân chảy máu não giai đoạn cấp là có lợi [1].

4.2.2. Biến đổi huyết áp theo giờ trong ngày (48 giờ)

Qua nghiên cu ca chúng i thy rằng huyết áp trong ngày đầu có sbiến thiên nhiu hơn đặc biệt là s biến thiên huyết áp bệnh nhân chy máu o huyết áp có tăng 2 thời đim giống ngưi bình tng và ngưi tăng huyết áp đim 8-10 gi, 17-18 giờ, thp nhất o 2-3 gi nng lại tăng vào 3 thời đim 14-15 giờ, 20-21 gi và 5-6 giờ. Din biến huyết áp có liên quan đến biến c tim mạch o c gi trên.
Huyết áp ở bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp có dao động và cơn tăng huyết áp trong ngày. Ở ngày thứ nhất huyết áp cao nhất vào thi điểm 9-10 giờ, 14-15 giờ, 17-18 giờ và 5-6 giờ. Thấp nhất vào 12-13 giờ, 1-3 gi khi bệnh nhân ngủ. Ngày thứ hai bệnh nhân chu trình ơng tự ngày thứ nhất. Vậy diễn biến huyết áp tăng cao 4 thời điểm thấp ở hai thi đim.
Huyết áp biến đổi theo thời gian, chu k thức ngủ, hoạt động, trạng thái tâm của cơ thể. Ở người bình thường nhịp huyết áp 24 giờ thay đổi ban ngày cao hơn ban đêm, sau 6 giờ sáng thì huyết áp bắt đầu tăng cho đến giữa trưa sau đó giảm chút ít ri li tăng lên từ 15 gi cho đến
18 gi sau đó giảm dần thấp nhất vào lúc 3-4 gi sáng. Nghiên cứu của Hunh Văn Minh và cộng sự tại trường Đại học Y Huế 2006 cho thấy: Ở người bình thường cũng như ng huyết áp (không bị đột quỵ não), huyết áp thay đổi trong ngày theo từng thời đim, cao nhất vào 9-11 giờ sáng, buổi trưa từ 12-14 gi giảm xuống, buổi chiều li ng lên cao nhất vào khang 17-19 giờ, sau đó giảm từ 22 giờ thấp nhất 1-3 giờ sáng, 5 gi sáng bắt đầu tăng tr lại và li bt đầu một chu k mới [4].
Nghiên cứu tiến cứu của A. Gupta và H. Shetty tại bệnh vin miền tây xứ Wales [7] cho thấy có đến 40,0% nguy cơ nhồi máu cơ tim, 29,0% nguy cơ tử vong do tim, 49,0% tăng nguy cơ đột quỵ và có 47,0% bị đột quỵ từ 6-12 giờ.

4.2.3. T l xut hiện vọt huyết áp sáng sm

Tỷ l vt huyết áp sáng sớm ở ngày thứ nhất (58,9%) cao hơn ngày thứ hai (47,0%), không vọt huyết áp sáng sớm ngày thứ hai 53,0% như vậy cao hơn so vi ngày thứ nht
41,1%. Vọt huyết áp sáng sớm ở bệnh nhân đột quỵ não chiếm tỷ lệ 60,4%.

Nghiên cứu của Kario cộng sự tại Nhật Bản 2006 [13] chỉ ra rằng thấy những người cao tuổi bị nhồi máu não vọt huyết áp sáng sớm chiếm tỷ l cao 57,0%. Vọt huyết áp sáng sớm và tăng huyết áp buổi sáng yếu t m tăng tình trạng t vong tỷ l tử vong tim mạch trong những giờ đầu của buổi sáng.[6], [8].

4.2.4. Tỷ lệ có “trũng huyết áp” ban đêm

Theo y văn thế gii, khỏang 20% người tăng huyết áp (không b đt quỵ não) không trũng huyết áp ban đêm, đây chính là những ngưi có nguy cơ cao bị các biến cố đột quỵ não [4].

Biến đổi nhịp ngày đêm của bệnh nhân đột quỵ não có ý nghĩa quan trọng đối với tổn thương não. Chúng tôi nhận thấy, chu k ngày đêm của các bệnh nhân đột quỵ o đã thay đổi rất ràng: Hiện tượng mất trũng huyết áp ban đêm được ghi nhận 100% các bệnh nhân CMN trong c 2 ngày, đảo ngược nhịp ngày đêm ngày thứ nhất 35,3% 41,1% ngày thhai. Bệnh nhân NMN Hiện tượng mất trũng huyết áp ban đêm 87,1% ngày thứ nht 90,3% ở ngày thứ hai; Đảo ngược nhịp ngày đêm ngày thứ nhất 38,7% và 45,1% ở ngày thứ hai.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu tương t trong và ngoài nước. Nghiên cứu của Đoàn Văn Đ cho thấy, nhóm bệnh nhân chảy máu não mất trũng huyết áp ban đêm là 75,0% 16,6% đảo ngược nhịp huyết áp ngày đêm, nhóm bệnh nhân nhồi máu não mất trũng ban đêm là 86,9% 13,1% đảo ngược nhịp ngày đêm [3]. Nghiên cứu của Cao Thúc Sinh Hunh Văn Minh (2011) trên 98 BN nhồi máu não thấy t lệ không trũng huyết áp ban đêm là 89,9% [5]. Tác gi Castilla-Guerra L cùng cộng sự phát hiện thấy sự thay đổi nhịp ngày đêm với huyết áp tâm thu 85,4% với nhồi máu khuyết 94,4% với các thể nhồi máu não khác; tỷ l tương ứng đối với huyết áp tâm trương 69,3% 91,6%; sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05 [8].
Hin tượng mt trũng huyết áp được giải thích là do tổn thương h thn kinh t động trung ương (bình thường giảm hoạt động của h giao cảm và tăng hoạt động của h phó giao v ban đêm). Tác động ca sự thay đi này lên kết cục tiên lượng của các bệnh nhân đột quỵ não vẫn đang là vấn đề còn nhiều ý kiến chưa thng nhất [1], [6], [15].

5. KẾT LUẬN

Qua theo dõi huyết áp bằng máy Holter huyết áp liên tục trong hai ngày trên 48 bệnh nhân
đột quỵ não giai đoạn cp chúng tôi thấy:

- Các thông số huyết áp ngày thứ nhất ngày th hai được duy trì tương đối ổn định
mức bình thường hoặc tăng nhẹ.

- c ch s huyết áp của nhóm bệnh nhân chảy u não có xu hướng cao hơn nhóm bệnh nhân nhi u não.
- Nhịp huyết áp nhóm chảy máu não biến đổi theo thời gian trong ngày rệt: Có 5 thời điểm huyết áp tăng 8-10 giờ, 14-15 giờ, 17-18 giờ, 20-21 gi 5-6 gi, thấp nhất 2-3 gi sáng khi ngủ.
- Nhóm nhi máu não nhịp huyết áp thay đổi trong ngày đó huyết áp tăng vào 4 thời
đim: 9-10 giờ, 14-15 giờ, 17-18 gi, 5-6 giờ, thp nhất 2-3 giờ sáng khi ngủ.

- Vọt huyết áp sáng sớm ở bệnh nhân đột quỵ não chiếm tỷ lệ 60,4%.

- Bệnh nhân CMN 100,0% mất trũng huyết áp ban đêm. Nhịp ngày đêm của huyết áp bệnh nhân đột qu não chủ yếu dạng mất trũng huyết áp ban đêm t l mất trũng ngày thứ hai xu hướng tăng 72,9%. Đảo ngược ngày đêm ngày thứ hai giảm còn 18,6%. trũng huyết áp chiếm tỷ lệ 0,62% thp hơn nhiều so với người bình thường và tăng huyết áp.
- Theo dõi huyết áp bằng máy Holter huyết áp là cần thiết để kiểm soát tốt huyết áp và giúp tiên lượng bệnh.

TÀI LIU THAM KHẢO

1. Avraham Weiss cộng sự (2011), Theo dõi HA liên tục trong đánh giá bệnh nhân cao tuổi bị đột quỵ cấp”, Tạp chí đột quỵ Quốc tế, Bản tiếng Việt, 1759-5738 (Tập 3, tháng 9), tr. 3-9.
2. Bo Norving, (2011), “Điều tr giai đoạn sm giai đoạn cấp bằng nội khoa”, Chương trình đào tạo cơ bản điều trị đt quỵ não của Bộ Y Tế, WSO, Tr. 109-116.
3. Trịnh Quốc Hưng, Đoàn Văn Đệ, (2002),Nghiên cứu huyết áp của bệnh nhân đột quỵ
não cấp tính bằng máy theo dõi huyết áp lưu động, Bộ giáo dục và đào to. Luận văn thạc sĩ.

4. Hunh Văn Minh và cộng sự (2006), “Mối liên quan gia tình trạng có trũng hay không có huyết áp trũng ban đêm và nguy cơ bệnh lý tim mạch”. Thông tin tim mạch học.
5. Cao Thúc Sinh, Hunh Văn Minh (2012), Nghiên cu biến đổi huyết áp bệnh nhân tăng huyết áp biến chứng nhồi máu não bằng huyết áp lưu động 24 giờ”, Hội nghị đột quỵ toàn quốc lần thứ III, tr. 91-99.
6. Ali K, Leong KM, Houlder S, Getov S, Lee R, Rajkumar C. (2011), The relationship between dipping profile in blood pressure and neurologic deficit in early acute ischemic stroke, J Stroke Cerebrovasc Dis; 20(1):10-5.
7. A. Gupta; H. Shetty (2005), Circadian Variation in stroke a prospective Hospital Based
Study, Posted: 11/11/2005;IntJ Clin Pract. 2005;59(11):1272-1275.

8. Castilla-Guerra L, Espino-Montoro A, Fernández-Moreno MC, López-Chozas JM. (2009), Abnormal blood pressure circadian rhythm in acute ischaemic stroke: are lacunar strokes really different? Int J Stroke; 4(4):257-61.
9. Eoin O’ Brien (2007), Is the case for ABPM as a routine investigation in clinical practice not overwhelming, Hypertention AHA.
10.  ESH/ESC  (2003),  “2003  european  Society  of  Hypertension-  european  Society  of
Cardiologie guidelines for the management of arterial hypertension”, Journal of hypertention
2003,21: 1011-1053.9.

11.Guerra LC, Moreno MCF, Montoro AE, Chozas JML. Ambulatory Blood Pressure
Monitoring in Stroke”, Stroke surviours: Do we really control our patients? Eur J Intern Med
2009;20:760-3.

12. Jain S, Namboodri KKN, Kumari S, Prabhakar S (2004), Loss of circadian rhythm of blood pressure following acute stroke, BMC Neurology, 4:1.
13. Kario K (2006), Blood pressure variantion and cardiovascular risk in hypertension,
Division of Cardiovascular Medicine, Department of Medicine, Jichi Medical School.

14. O’Brien E, Coát A, Owens P, Petrie J, Padfield PL, Littler WA. Et al (2000). Use and interpretation of ambulatory blood pressure monitoring:recommendation of the British hypertension society”. 320: 1128-34.
15.  Pickering  TG  (2005),  “Should  we  be  evaluating  blood  pressure  dipping  status  in clinical practice”, J. Hypertention, Vo. 7, no. 3.

Subscribe your email address now to get the latest articles from us

No comments:

Post a Comment

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License