HỆ THỐNG KHÁNG NGUYÊN BẠCH CẦU NGƯỜI (HLA: HUMAN LEUCOCYTE ANTIGEN) VÀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT

Saturday, November 29, 2014

Hệ thống kháng nguyên bạch cầu người và bệnh tăng huyết áp nguyên phát
Trần Đình Bình1

K t khi Jean Dauset lần đầu tiên phát hin kháng nguyên bạch cu ngưi o năm
1958, lĩnh vc nghiên cu Kháng nguyên bạch cầu ngưi (Human Leucocyte Antigen, HLA) bắt đầu khi động và phát triển rất nhanh. Hơn 50 năm qua, hip hội quc tế v kháng nguyên  phù  hp  t chc  (International  HistocompatibilitWorkshop  and  Conference, IHWC) đã trải qua 13 ln đại hội, nhiều nghiên cứu đã đưc o cáo, bao gồm v cu trúc phân t, chc năng sinh học, c kthuật phân tích, c định HLA, mi liên h gia h HLA với mt s bệnh tật, c ứng dụng hay ý nghĩa m sàng ca nghiên cu HLA trong y học, trong pháp y[1], [2].


1. SƠ LƯỢC VỀ H THỐNG KHÁNG NGUYÊN BẠCH CẦU NGƯỜI HLA

1.1. Sơ lược về hệ thống HLA

Phức hợp kháng nguyên phù hợp t chức của người MHC (Major Histocompatibility Complex) hay còn được gọi Kháng nguyên bạch cầu ngưi (Human Leucocyte Antigen, HLA) do lần đầu tiên phát hiện được trên tế bào bạch cầu. Các kháng nguyên phù hợp t chức chính của người các kháng nguyên trong h thống phù hợp t chc HLA các kháng nguyên bề mặt bạch cầu người. Kháng nguyên HLA lần đầu tiên được phát hiện khi nghiên cứu hiện tượng thi ghép. Khi cấy mô ghép cho một thể khác không giống nhau về các kháng nguyên này (tức là không hòa hợp với tổ chức) thì chúng sẽ kích thích cơ thể nhận đáp ứng miễn dịch, dẫn đến thải bỏ mô ghép [1], [2].
Các gen ca HLA nằm trên đoạn ngắn của nhiễm sắc th số 6, chiều dài tổng cộng
3.600kb hoặc 4,6 x 106 bazơ nitơ, bao gm 224 alen, trong đó có 128 alen có chc năng và 96 alen không có chc năng. Cho đến nay, HLA đưc coi là h kháng nguyên của ngưi phc tạp nht và đa hình (polymorphism) nhất).
Các MHC gm 2 loại protein gọi protein MHC lớp I protein MHC lớp II. Cả 2 loi phân t lớp I lớp II đều các glycoprotein b mặt m nhiệm vụ nhn diện kháng nguyên. Những kháng nguyên MHC lớp I có trên b mặt tt cả các tế bào nhân động vt xương sống, còn protein MHC lớp II chỉ trên bề mặt của một số loại tế bào như tế bào B, đại thực bào các tế bào trình diện kháng nguyên viết tắt APCs (Antigen Presenting Cells) giúp tế

bào B tạo kháng thể [7], [12].


Hình 1. Các locus gen trong hệ thống HLA

Người ta đã xác định được hệ thống các gen HLA nằm trên nhánh ngắn nhiễm sắc th số 6 với trên 200 gen khác nhau nằm trên vùng 4Mb. Ở đây có hai hệ thống locus gen đa alen.
MHC lp I có 3 locus (HLA-A, -B, và -C). Trong đó HLA-A có 207 alen, HLA-B có 412 alen và HLA-C có 100 alen.
Protein MHC lớp I có cu tạo gồm 2 chui polypeptid. Mt chuỗi là glycoprotein có tính đa hình cao - chuỗi a cm u o màng sinh chất; chui kia là microglobulin b-2 (viết tt là b2m) không có tính đa hình, đây là mt polypeptid nhn nhiều so vi chuỗi a, chúng gn với các peptid ngoại lai ca qua chế biến có ngun gc trong tế o (peptid virus), giúp trình din kháng nguyên cho tế o T CD8+ phn ng lại mt svirus khi chúng xâm nhp o cơ th. Các locus MHC lớp I khác ít tính đa hình hơn. Các HLA lp I có ý nghĩa nhiều trong ghép , ghép tạng chyếu là c locus HLA-A, HLA-B, và một s locus HLA-C. Mi locus y có hàng chc alen khác nhau to nên tính đa dng cao gia c cá th [17], [18].
MHC lớp II 11 hệ thống locus thuộc HLA-DR, HLA-DM, HLA-DQ HLA-DP. Trong đó:
HLA-DR: Gm HLA-DRA, HLA-DRB1, HLA -DRB (HLA -DRB3/ HLA -DRB4); HLA-DM: Gm HLA-DMA, HLA-DMB;
HLA-DQ: Gồm HLA-DQA1, HLA-DQB1, HLA-DQB5; HLA-DP: Gm HLA - DPA1, HLA-DPB1.
Protein MHC lp II cũng có bn cht glycoprotein, gm (HLA-DR, HLA -DQ, và HLA - DP) cũng cấu tạo t 2 chuỗi polypeptid a b glycoprotein dạng heterodimer trên b mặt tế bào trình diện kháng nguyên- tế bào B. Các phân tử MHC lớp II gắn với các peptid đã qua chế biến nguồn gốc chủ yếu protein màng tế bào ngoại bào (như peptid vi khuẩn) trình diện cho tế bào T CD4+. Các polypeptid đều cắm sâu vào màng sinh chất nhô ra ngoài mặt tế bào. Cả hai vùng HLA-DQ HLA -DP đều chứa 5 gen. HLA-DP chứa 2 gen b 3 gen a. HLA-
DQ chứa 3 gen b 2 gen a. Trong đó 2 gen chức năng mã hóa cho chuỗi a (DQA1 và
DPA1) chuỗi b (DQB1 DPB1). Ngoài ra, còn một số gen gi DQA2, DQB2, DPA2 và

DPB2. ng HLA-DR chứa 4 gen gm 3 gen b 1 gen a. Các gen này mã hóa cho chuỗi b (DRA) a (DRA). Các locus MHC lớp II cũng tính đa hình cao tới hàng tm alen khác nhau [1], [2].

Hình 2. Cấu trúc protein của hai lớp MHC

Xen kẽ hai hệ thống locus trên còn các h thống locus khác như xen giữa gen lớp I lớp II còn gen lớp III (gen bth). Giữa các gen lớp III còn gen CYP21A CYP21B mã hóa cho tổng hợp hormone tuyến thượng thận. Các gen HLA đều đồng trội, liên kết chặt chẽ và di truyền cùng nhau. Chính vậy, khả năng tìm được hai người sự phù hợp HLA rất khó, có thể gặp ở hai người cùng huyết thống. Vì thế đây các h thống gen ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thải trừ các ghép do chúng kiểm soát việc tng hợp nên các kháng nguyên bề mặt tế bào bạch cầu ca người dưới dạng các chuỗi polypeptid cắm sâu vào màng sinh cht và nhô ra ngoài bmặt tế bào [1], [2].

1.2. Chức năng của hệ thống HLA trong cơ th

Khởi đầu sự phát hiện ra hệ HLA trong quá trình nghiên cứu sự thải ghép. H gien HLA với các sản phẩm phiên mã của mình tham dự với những mức độ khác nhau vào quá trình nhận diện miễn dịch, đáp ứng miễn dịch điều hòa miễn dịch của thể, đó là: Tham d vào đáp ứng miễn dch với tế bào lympho T; tham d vào kiểm soát di truyền các đáp ứng miễn dịch; liên kết các hoạt động của các tế bào miễn dịch; tham dự vào quá trình xử kháng nguyên; tham dự vào quá trình điều biến miễn dịch; tham dự vào quá trình phânhóa các tế bào miễn dịch… Các bạch cầu ca một thể được dán nhãn hiệu cá nhân để phân biệt tế o đó là của mình hay của kẻ khác. Nhãn hiệu này được đóng vào màng tế bào, gm nhiều protein cấu to đặc biệt, không ai ging ai. Protein này được tạo thành bởi các cặp gen nằm trên nhiễm sắc thể số 6 trong nhân tế bào. Những cấu trúc gien này được gọi là hệ HLA, là bộ tham mưu chỉ huy các lực lượng an ninh thể. Nhờ nó, khi kẻ l vào người, các bạch cầu nhận dạng được ngay báo động. Cuộc chiến tranh t vệ s nổ ra nhằm tiêu diệt vi trùng xâm lược hoặc làm bong những mảng tế bào lạ, những mô lạ ghép vào túc ch [1], [2], [5], [7].
Nếu hệ HLA bị hỏng (hay những vấn đề về hoạt động bình thường, nghĩa rối loạn), không nhận ra kẻ thù thì các tác nhân gây bệnh các mô lạ (như khối u, tế bào nhiễm virut...) tha hồ tàn phá cơ thể. Đôi khi có loại virus xảo quyệt đến mc chui vào tế bào mà không làm mt nhãn hiệu của tế bào, khiến hệ HLA mất cảnh giác, chỉ không nhận diện nổi kẻ ngoại lai.

Cũng khi hệ HLA đánh vào một số tế bào ca thể đã để mất nhãn hiệu. Những tế bào này đã bị coi kẻ phản bội, “ta” đã biến thành thù. Trong trưng hợp này xảy ra tình trạng bệnh tmiễn dịch [2], [12].


Hình 3. Quá trình đáp ứng miễn dch và vai trò của HLA-II

1.3. Liên quan giữa HLA và bệnh tật

Rất lâu trưc khi vai trò trình diện kháng nguyên của MHC được khám phá, người ta thấy có sự phổ biến của một số bệnh tmiễn với một vài kiểu hình HLA. Sự liên hệ này đã được khẳng định qua các nghiên cứu trong các dòng họ hoặc trong các cộng đồng dân cư. Người ta đã tính được nguy cơ tương đối (RR: Relative risk hoặc risk ratio) của một số bệnh có liên quan đến HLA. Ngưc lại, một số kiểu hình HLA lại tính cht "bảo vệ" (RR < 1). chế về sự liên quan giữa một số allele HLA và bnh tự miễn vẫn chưa được hiểu rõ, hin có 3 giả thuyết để gii thích [2], [7], [12]:
(1) Các alen đó trình din quá mức 1 kháng nguyên tự thân.

(2) Các alen mã hóa các phân t MHC kém chất lượng, dẫn đến dễ mắc bệnh, mạn tính hóa và tmiễn hóa.
(3) Cơ chế gián tiếp: Các alen gây bệnh không phải bản thân HLA 1 gen vị trí lân cận và biểu hiện đồng thời.
H HLA liên quan đến một số bệnh di truyền liên quan với các gen liên kết HLA như hội chứng tăng sản thượng thận bẩm sinh liên quan đế enzym 21 hydroxylase do đột biến gen CYP21A, CYP21B. Bnh viêm cột sống dính khớp liên quan ti HLA-B27 90% các trường hợp, trong khi nhóm chứng chỉ 9,4%. Tần suất DR5 bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp
50%, trong khi ở nhóm chứng là 16,2% [1], [2], [3], [5].

Sự tương hợp giữa nhóm máu bệnh liên quan đến không chỉ ở hệ thống ABO còn ở các h thng khác. Trong thời gian gần đây sự nghiên cu mạnh m theo phương hướng này được tiến hành với hệ thống HLA. Một trong các mối tương tác mạnh nhất đã đưc nghiên cu

sự tương hợp của kháng nguyên HL-A W27 với các bệnh viêm cứng khớp sống, bệnh Reiter, bệnh vẩy nến, viêm gan mãn, luput ban đỏ hệ thng, nhược cơ…[1], [2], [3], [5].
Một số nghiên cứu ng đưa ra mối liên quan về việc mang các alen HLA-DQA1ng nh hưởng đến nguy cơ bị ung thư gan nguyên phát hay ung thư phổi [4].
H HLA cũng liên quan với cả những bệnh nhiễm khuẩn hay nhim virus như nhim virus viêm gan B, C nhiễm HIV, các nhiễm khuẩn như Helicobacter pylori... Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng, nhng người mang alen HLA-Bw54 thường tlmang HbsAg rất cao so với những nhóm người khác, đặc biệt nam giới. Những người mang alen HLA-DR13 thì li có khả năng loại trừ kháng nguyên HbsAg rất nhanh sau khi b Viêm gan do virus B cấp tính. Những người mang alen HLA-DR (đặc biệt là mang alen HLA-DR*0103, HLA-DR*0104 thì ít có xu hướng chuyển sang Viêm gan mạn nh [1], [2], [3], [25], [26].

2. HỆ THNG HLA VÀ BNH TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT

Năm 1975, Low B cộng sự [16] khi tiến hành thí nghim độc tế bào Lympho xác định kháng nguyên HLA để nghiên cứu mối liên hệ giữa HLA với bệnh tăng huyết áp nguyên phát và bệnh đái tháo đường mang tính chất gia đình đã phát hiện trong s 27 trường hợp tăng huyết áp nguyên phát 41% người bệnh mang HLA-B8, kể t đó nhiều tác giả đã bắt đu quan tâm nghiên cứu mối liên quan giữa HLA bệnh tăng huyết áp nguyên phát. Bằng các xét nghiệm huyết thanh học và sinh học phân tử, nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả đã đưa ra nhiều nhận xét về mối liên quan giữa hệ HLA với bệnh tăng huyết áp nguyên phát.
Năm 1981 Johnson J [13] cộng s sử dụng phương pháp độc tế bào Lympho để nghiên cứu hệ HLA trên người da đen, nghiên cứu phân tích s phân bố HLA- A HLA - B trên 100 trường hợp bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát và 100 người khỏe mạnh đối chứng được, kết quả cho thy sự phân b HLA- A HLA - B giữa nhóm chứng nhóm bệnh không khác nhau có ý nghĩa thống kê, điu đó ch ra rằng người da đen mang HLA- A hoặc HLA - B thể không liên quan đến bệnh tăng huyết áp nguyên phát. Năm 1992 Gerbase M.[8] cộng s cũng dùng phương pháp trên để phân tích sự phân bố của HLA- A, B, DR 89 bnh nhân người da trắng ở Brazil, kết quả cho thấy dấu hiệu nhạy cảm di truyền của bệnh tăng huyết áp nguyên phát khi m thấy tần số cao hơn của gen HLA- DR4. Năm 1998 Gerbase M.[9] nghiên cứu sự phân bố các kháng nguyên HLA trên 33 trưng hợp tăng huyết áp nguyên phát ác tính người Brazil da trắng và người lai da trắng da đen cho thấy, những người Brazil lai trắng - đen mang kháng nguyên HLA- DR3 có liên quan mật thiết vi bnh.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật sinh học phân tử, nhiều nghiên cứu phân bố các alen HLA nhng quần thể khác nhau ở các khu vực khác nhau liên quan đến bệnh tăng huyết áp nguyên phát khác nhau. Vidan Jeras B. và cộng sự [23] nghiên cứu phân bố các alen HLA liên quan đến bệnh tăng huyết áp nguyên phát quần thể ngưi Slovenia cho thấy, những người mang alen HLA-DRB1*0101/2, DQB1*0501/2, DQA1*0102 có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp nguyên phát, như vy thể các alen này gia tăng nguy mắc bnh, còn những những người mang các alen HLA-DRB1*1601/2, DQB1*0502, DQA1*0102 hoặc DRB3* có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp nguyên phát, th đây các alen kh năng bảo vệ. Năm 2005 Zabay J.M. cộng sự [29] trong một nghiên cứu phân bố các alen HLA-B, DRB của

quần thể trên cùng một chủng tộc đảo Balearic, Majorca của Tây Ban Nha 110 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát cùng 107 người khỏe mạnh nhóm chứng, kết quả cho thấy những người mang alen HLA-DRB3*0202 tương quan mật thiết với bệnh tăng huyết áp nguyên phát (OR = 1,79, p = 0,03); những người mang alen HLA-DRB4*01 thường không bị mc bệnh tăng huyết áp nguyên phát (OR = 0,56, p = 0,04). Như vậy, alen HLA-DRB3*0202 có thể là một gen tăng nguy cơ cho bệnh này, ngược lại, alen HLA-DRB4 01 th gen giúp giảm nguy cơ với bệnh tăng huyết áp nguyên phát. Gu X.X.[10], sử dụng kỹ thuật PCR- SSO nghiên cứu 120 trường hợp bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát 168 người khỏe mnh nhóm chứng tại Bỉ về phân bố HLA- DRB, DPB1, kết quả đã không tìm thấy sự khác biệt tần suất DPB1, HLA- DRB giữa hai nhóm có ý nghĩa thng kê, nghiên cứu đã kết luận HLA-DRB, DPB1 không liên quan với bnh tăng huyết áp nguyên phát.
Người Hán Trung Quốc đều thuc chủng tc da vàng nhưng đặc trưng trú riêng biệt 2 miền Nam Bắc, các yếu t di truyền cũng th khác biệt nhau. Năm 1998, Sun Ningling [20] sử dng kỹ thuật PCR- SSP nghiên cứu sự phân bố các alen HLA-DQA1 người n sống phía bc sông Hoàng Hà trên 52 trường hợp bệnh nhân tăng huyết áp lịch s gia đình và 86 người khỏe mạnh ở nhóm chứng. Kết qucho thấy tn suất mang alen HLA-DQA1*0302 trong nhóm bệnh cao hơn đáng kể, trong khi đó mang alen HLA- DQA1*0103 tần suất cao hơn ở nhóm chứng nhóm bình thưng. Như vậy, có thể mang alen HLA- DQA1*0302 có thể là yếu t nguy cho bệnh tăng huyết áp nguyên phát, alen HLA-DQQA1*0103 thể yếu tố bảo vệ. Nghiên cứu năm 2001 của Shen Naiyu [19] cùng phía bắc sông Hoàng trên quần thể người Hán bằng cách sử dụng cùng một phương pháp của Sun Ningling v mối liên quan giữa HLA- DQA1 với tăng huyết áp nguyên phát, kết quả cho thấy mang alen HLA-DQA1*0301 và tăng huyết áp nguyên phát mối liên quan, đồng thời cũng chứng minh được người mang alen HLA-DQA1*0103 thể giảm nguy mắc bệnh tăng huyết áp tương t như nghiên cứu ca Sun Ningling. Trong mt nghiên cu trên ngưi n phía nam năm 2004 ca Hu Dachun [11] bng cách s dụng cùng mt pơng pháp PCR-SSP đ phân tích s phân b c alen HLA- DQA1 trên 83 bệnh nhân 91 người khe mạnh tại tỉnh Vân Nam, kết quả cho thấy bệnh nhân thì tần suất mang HLA-DQA1*0302 là 0,128 cao hơn so vi nhóm đi chứng (0.011), χ2 = 19,409, p <0,01; tần suất mang HLA-DQA1*0201 nhóm bệnh 0,061, thấp hơn so với nhóm chứng (0,170), χ2 = 9,876, p <0,05); như vậy có thể thấy rằng sự khác biệt giữa 2 quần thể người Hán phía bắc phía nam Trung Quốc. Mang alen HLA-DQA1*0302 th xem là liên quan với bệnh tăng huyết áp nguyên phát, kết quả đó tương t như nghiên cứu của Sun Ningling ở người Hán phía Bắc, trong khi đó, mang alen HLA-DQA1*0201 th tác dụng bảo vệ khỏi mắc bệnh, kết qu này khác với nghiên cứu của Sun Ningling Shen Naiyu. Kết quả nghiên cứu này thể doVân Nam nằm ở biên cương phía nam, nhiều dân tộc thiểu số chung sống, người hán Vân Nam có t tiên đến t khắp nơi trên đất nước Trung Quốc và hiện tượng kết hôn với người dân tc thiểu số, do đó phân bố các alen hệ HLA có đặc trưng riêng.
Một nghiên cứu bệnh chứng vào năm 1997 của Sun Ningling trên người Hán về sự phân bố các alen HLA-DRB1 [21] bằng kỹ thuật PCR- SSP, kết qu cho thấy alen HLA-DRB1*1501/2 có tần sut cao bệnh nhân ng huyết áp nguyên phát, ngược lại alen HLA-DRB1*0901 có tn suất cao n nhóm chứng. Nghiên cứu năm 2004 của Ye Jianchun [27] v phân bố các alen

HLA- DRB1 bằng cách sử dụng kỹ thuật tương t trên bệnh nhân tăng huyết áp người Hán tỉnh Vân Nam cũng cho kết quả tương tự.
Những nghiên cứu mối liên quan giữa HLA phì đại tht trái trong tăng huyết áp nguyên phát đã giải thích một số chế bệnh sinh của phì đại thất trái. những bệnh nhân tăng huyết áp, khỏang 1/3 sẽ xuất hiện phì đại tâm thất trái (LVH: Left ventricular hypertrophy). Chúng ta đều biết, LVH biểu hiện quan trọng của tăng huyết áp trên cơ quan đích, đồng thời liên quan chặt chẽ vi bệnh mạch vành, suy tim, đột quỵ các bệnh tim mạch khác [6], [22], [28]. Tuy nhiên, chế của LVH phức tạp hơn, chế chính xác chưa được biết ràng. Trong những năm gần đây, LVH được xem kết quả của nh trạng quá tải ca tâm thất trái để thích ứng với áp lực quá tải. Nhưng nhiều nghiên cứu quan sát thấy rằng mối quan hệ giữa huyết áp kích thước tht trái không phải chặt chẽ, sự thay đổi huyết áp động mạch với mức độ phì đại tht trái không phải hoàn toàn tương ứng với nhau. thế, cho đến nay nhiều tác gi cho rng LVH liên quan đến độ tuổi, giới tính, cân nặng, chủng tc, yếu t di truyền, mc độ kháng insulin và mức độ tăng huyết áp [14]. Nói về các yếu t di truyền, các tác giả nước ngoài đã báo cáo mối liên quan giữa HLA với LVH, h chỉ ra rằng HLA thể được tham gia vào chế bệnh sinh của LVH. Nghiên cứu năm 2001 của Emmanuel J, Diamantopoulos [6] trên 158 trường hợp mới mắc tăng huyết áp nguyên phát của Athens (Hy lp) xem HLA phải một trong những yếu t liên quan đến thay đổi cấu trúc của tim mạch hay không bằng phương pháp đo khối lượng thất trái (LVM: left ventricular mass) bằng siêu âm và tính tỷ l LVM/chiều cao (LVM/h), đ dày lớp nội mạc động mạch cảnh (IMT: Intimamedia thickness), xác định sự phân bố các alen HLA bằng kỹ thuật PCR. Kết quả phát hiện thấy, bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát mang HLA-DQ7, HLA-DR11 có tỷ lệ LVM/h cao hơn người không mang các locus này, trong khi những bệnh nhân mang HLA-B51 LVM/h thấp hơn so với người không mang locus này. Như vy HLA-DQ7, HLA-DR11 thể là yếu tố nguy cơ cho LVH, ngược li HLA-B51 thể hiệu quả bảo vệ khỏi LVH, từ đó thể suy đoán HLA thể được liên quan với chế bệnh sinh của bệnh tăng huyết áp LVH. Năm 2003, mt nghiên cứu khác của Vlachonikolis IG [24] trên người Athens với phương pháp tương tự như trên với 61 người có huyết áp bình thường, 153 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát nhưng chia làm 3 nhóm: Nhóm 1: Tăng huyết áp độ I; nhóm 2: Tăng huyết áp độ II nhóm 3: Tăng huyết áp độ III. Mục tiêu ca nghiên cứu để xác định mối liên quan giữa kháng nguyên HLA với sự thay đổi cấu trúc tim, mch thông qua phản ánh của LVM IMT. Kết quả cho thấy tần suất mang HLA-DR11 ở nhóm thứ ba có LVM/h cao hơn người bình thường, nhưng sự kết hợp này không được tìm thấy các nhóm đầu tiên nhóm thứ hai, điều này thể chứng minh HLA-DR11 thể liên quan đến LVH, hay thể suy đoán HLA liên quan đến mức độ huyết áp động mạch HLA thể mt yếu tố thúc đẩy thay đổi cấu trúc tim, mạch trong tăng huyết áp.
Một số các nghiên cứu Mỹ Trung Quốc cho rằng, người mang alen HLA-B12, HLA- B35, HLA-DRB1*1501/2 rất dễ bị cao huyết áp hay các hội chúng liên quan đến cholesterol máu hay cao nồng độ m trong máu. Ngược lại, nhng người mang alen HLA-DRB*0901 thì khó có khả năng mắc bệnh cao huyết áp. Vấn đề này l liên hệ đến quá trình chuyển hóa m trong thể [2], [23].

Nói tóm lại, hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho rằng mối liên quan giữa HLA với bệnh tăng huyết áp nguyên phát, rt tiếc là chưa có nghiên cứu nào ở trong nước báo cáo về vn đề này. Cùng với sự phát triển của k thuật sinh học phân tử, chúng ta hy vọng những nghiên cứu trong nước được thực hiện trong lĩnh vực này. như vậy chúng ta mới thể cung cấp cho thầy thuốc lâm sàng bệnh nhân mắc bệnh ng huyết áp nguyên phát những bằng chứng về sinh học phân tử để phân loại lâm sàng, chẩn đoán, phòng ngừa biến chứng… trên những người mang các kháng nguyên HLA khác nhau.

TÀI LIU THAM KHẢO

1. Andrew J, George T (1995), “Disease usceptibility, transplantation and the MHC”, Immunology Today, 5(16), 209-211.
2. Trn Đình Bình (2005), HLA-Nghiên cu và ứng dụng, K thut PCR, Nhà xut bn Y học, Hà Ni.
3. Trần Đình Bình, Linlin Wang, Qingwen Shan, Lin Weixiong (2005), “Mối liên hệ giữa các allele HLA-DQA1 với cảm nhiễm Helicobacter pylori tr em dân tộc Hán, Choang, Mộc lao La thành, Quảng tây Trung quc tr em dân tộc Kinh Huế”, Tạp chí Y hc thực hành, Số 521, 80-86.
4. Trần Đình Bình, Ngô Viết Qunh Trâm, Huỳnh Thị Hải Đường, Phi Long (2011), “Nghiên cu phân bố HLA-DQA1 người và người mắc ung thư gan, ung thư phi  ti khu vc Bình Trị Thiên”, Tạp chí Y dược học, Số 1,  111-118.
5.  Cristina Barlassina, Chiara Lanzani, Paolo Manunta et al (2002), “Genetics of essential hypertension: From families to genes”, J Am Soc Nephrol, 13, S155-S164.
6. Emmanuel J., Diamantopoulos Emmanuel A et al (2001). “Association of specific HLA phenotypes with left ventricular mass and carotid intimamedia thickness in hypertensives”, Am J hypertension, 14, 632-636.
7. Fan Lian, Zhou Guangyan (1999), “Renlei jiyinzu MHC cexu jiqi mianyixue yiyi”, Shanghai mianyixue zazhi, 19(6), 321-322.
8. Gerbase DeLima M (1992). “Essential hypertension and histocompatibility antigens. An association study”. Hypertension, 19, 400-402.
9. Gerbase DeLima M., Paiva Human RL (1998), “Leukocyte antigens and malignant essential hypertension”, J Hypertens, 11(6 Pt 1), 729-731.
10 Gu XX., Spaepen M., Raeymaekers P. et al (1995), “Lack of association between HLA
class II polymorphisms and essential hypertension in a Belgian population”, J Hum Hypertens,
9(7), 553-555.

11. Hu Dachun, Ye Jianchun, Chen Aihua et al (2004), “Yunnan Hanzu yuanfaxing gaoxueya yu dengwei jiyin de xiangguanxing yanjiu”, Zhongguo xinxueguan zazhi, 6, 9(3), 157-159.
12. Jan Klein, Akie Sato (2000), “The HLA system: First of two parts”, N Engl J Med,
343(10), 702-709.

13. Johnson J (1981). “Histocompatibility antigens in black patients with essential hypertension”, Circulation, 64, 1042-1044.
14. Liu Guozhang, Dang Aimin (1998), “Gaoxueya zuoshi feihou de fasheng jizhi, zhenduan ji zhiliao”, Zhongguo xunhuan zazhi, 1  23.
15. Liu Yahe, Lu Fenghua, Zhou Guangyan et al (1996), “MHC-II lei jiyin qidongzi jiqi duotaixing   shunshizuoyong   yuanjian   DNAyanjiu   jinzhan”,   Guowai   yixue,   Mianyixue fence  19(6), 281-284.
16. Low B, Schersten B, Sarter G et al (1975). “HLA8 and W15 in diabetes mellitus and essential hypertension”. Lancet, 1, 695.
17. Olerup O., Aldener A., Fogdell A. (1993), “HLA-DQB1 and HLA-DQA1 typing by
PCR amplification with sequence specific primers (PCR-SSP) in 2 hours [J]. Tissue Antigens,
41(3), 119-134.

18. Olerup O. (1994), “HLA-B27 typing by a group specific PCR amplification [J]. Tissue
Antigens, 43(4), 253-256.

19. Shen Naiyu, Yan Zheng, He Peiying et al (2001), “Yuanfaxing gaoxueya he dongmai yinhuaxing naogengsi ji qiangxixing naogengsi huanzhe de HLA-DQA1 yichuan yiganxing”, Zhonghua yixue zazhi, 81(6), 352-355.
20. Sun Ningling, Yan Wenying, Yan Zheng et al (1998), “HLA-DQA1dengwei jiyin yu yuanfaxing gaoxueya xiangguanxing yanjiu”, 15(5), 288-290.
21. Sun Ningling, Yan Wenying, Wang Shenwu et al (1997), “Yuanfaxing gaoxueya yu
HLA-DRB dengwei jiyin xiangguanxing yanjiu”, Beijing yixue daxue zazhi, 29(4), 348-351.

22. Verdecchia P, Schillaci G, Borgioni C et al, “Adverse prognostic significane of geometric remodelingof the left ventricle in hypertension patients with normal left ventricular mass”. J Am Coll Cardiol, 25, 871-878.
23. Vidan Jeras B., Gregoric A., Jurca B. et al (2000), “Possible influence of genes located on chromosome 6 within or near to the major histocompatibility complex on development of essential hypertension”, Pflugers Arch, 439(3 Suppl), R60-62.
24.  Vlachonikolis  IG,  Tarassi  KE,  Chatzis  NA  et  al  (2003),  “HLA  phenotypes  as promoters of cardiovascular remodelling in subjects with arterial hypertension”, J Hum Hypertens, 17(1), 63-68.
25. Wang Linlin, Tran Dinh Binh, Lin Weixiong, Jiang Haixing, Shan Qing-wen, Xie Xiangzhi, Liang Danmei (2004), “The association of HLA-DQA1 polymorphism with Helicobacter pylori infection in children of Guangxi Luocheng Han, Zhuang and Mulao nationalities”, Guangxi Medical Journal, Vol 26, No6, 778-781.
26. Wang Linlin, Tran Dinh Binh, Lin Weixiong, Jiang Haixing, Shan Qing-wen, Xie Xiangzhi, Liang Danmei (2004), “Association of HLA-DQA1 loci with Helicobacter pylori infection in children of Guangxi Zhuang, Mulao nationalities, China and central Jing nationality, Vietnam”, Chinese Journal of Pediatrics, Vol 42, No8, 577-580.

27. Ye  Jianchun,  Hu  Dachun,  Chen  Aihua  et  al  (2004),  “Yunnan  Hanzu  yuanfaxing gaoxueya yu dengwei jiyin de xiangguanxing, Zhonghua yixue yichuanxue zazhi, 21(3), 286-287.
28. Yu LH, Ulf de F, Debra A, et al (1994), “Genetic and environmental influence on blood pressure in elderly twins”, Hypertension, 1994, 24(6), 663-670.
29. Zabay JM, Marco J., Soler J. et al (2005), “Association of HLADRB3*0202 and serum IgG antibodies to Chlamydia pneumoniaewith essential hypertension in a highly homogeneous population from Majorca (Balearic Islands Spain)” Human Hypertension, 19, 615-622.

Subscribe your email address now to get the latest articles from us

No comments:

Post a Comment

 

Nuôi dạy con thông minh

Copyright © 2018. Nơi chia sẻ những kiến thức y khoa.
Design by Bacsiluc.com. Published by Fanpage Chia sẻ trực tuyến KIẾN THỨC Y KHOA. Powered by Blogger.
Creative Commons License